 
Lời dẫn nhập: Bài này tôi viết đã 5 năm rồi, tháng 3 năm 2005. Đọc lại tôi thấy vẫn còn là thời sự. Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn vẫn còn nằm trong ngăn tủ khóa kín tại Việt Nam. Nhận định của tôi ở phần cuối: “Sinh thời tôi chưa bao giờ nghe nói TCS là nghệ sỹ nhân dân. Nhưng chính quần chúng nhân không phân biệt thành phần, lớp người, lứa tuổi, không phân biệt Bắc Trung Nam, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, đã chọn thiên tài Trịnh Công Sơn là nghệ sỹ số một của mình…”; vẫn giử nguyên giá trị! Xin đăng tải lại đây gọi là tường niệm chín năm ngày người nhạc sỹ tài danh của chúng ta vào cõi vĩnh hằng! Phần sau cùng của bài này, tôi cũng xin mạo muội thử hát ba ca khúc nỗi tiếng của ông. Sài gòn ngày 31/3/2010 Một thoáng Trịnh Công Sơn Nguyễn-Đăng Hưng Hơn một năm sau ngày nhạc sỹ Trịnh Công Sơn mất, tôi lục trong chồng sách nhạc của gia đình để tìm lại một bài hát về xuân của nhạc sỹ Văn cao, bài “Mùa Xuân đầu tiên”. Tôi chuẩn bị tổ chức tốp ca cho ngày tết Việt Kiều tại Bruxelles. Và tôi bất chợt đọc lại bút tích của người nhạc sỹ tài danh, ngay trang thứ hai của Tuyển tập nhạc Văn Cao “Thiên Thai” do nhà xuất bản Trẻ tại Tp Hồ Chí Minh xuất bản năm 1988 : Vâng, tôi cũng quen biết Trịnh Công Sơn, dù chỉ một thoáng ngày Tết năm xưa… Chúng tôi về Việt Nam ăn Tết năm 1989 sau một thời gian khá dài mười năm không lui tới. Chuyến đi cuối cùng trước đó đã xa cách đến gần một thập kỷ : hè năm 1979. Hồi ấy, việc đầu tiên chúng tôi làm tại Việt Nam là đi mua tranh về trang trí cho ngôi nhà mới mua tại Bỉ. Tôi không nhớ vì sao lại run rủi lần mò đến xem phòng triển lãm tranh tại gia của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn với sự tham gia của các hoạ sỹ Đinh Cường và Tôn Thất Văn. Và chúng tôi suýt mua được một bức của Tôn Thất Văn, suýt thôi vì chưa ngã giá nên cuối cùng không mua được… Biết tôi là Việt kiều có hoạt động phản chiến tại Bỉ trong thập kỷ 65-75, có chút “máu văn nghệ”, Trịnh Công Sơn cho hay là đang chuẩn bị đi Pháp và nếu tôi còn ở lại Việt Nam thì ra Tết sẽ đến nhà thăm tôi… Rồi đùng một cái mồng 6 Tết chúng tôi tiếp tại nhà người anh vợ tôi, cư xá Lữ gia, cả một đoàn văn nghệ sỹ nổi tiếng: nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhạc sỹ Trần Long Ần, hoạ sỹ Tôn Thất Văn, Michiko và Trịnh Công Sơn! Sau một hồi chén tạc chén thù, hàn huyên sôi nổi, tôi rất đỗi vui là chính Trịnh Công Sơn, một cách đôn hậu hồn nhiên đề nghị đem ghi ta ra hát. Ở nhà không có ghi ta, TCS cho gọi người nhà mình đem đến… Và chúng tôi có được cái diễm phúc bất ngờ là ngày Tết được nghe tại chính nơi mình tạm trú nguời nhạc sỹ mình hằng ngưỡng mộ hát một loạt những bài anh mới sáng tác. Rồi Michiko cũng hát, Trần Long Ẩn cũng hát. Thật bất ngờ, một nhạc sỹ tiếng tăm lẫy lừng tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, một danh tài đã có môt sự nghiệp âm nhạc đồ sộ, đã thật giản dị và hồn nhiên, cùng bạn bè ngồi hát cả buổi chỉ cho vợ chồng chúng tôi, nhà văn Nguyễn Quang Sáng và một người lái xe nghe! Vâng, chúng tôi may mắn có đươc một thoáng Trịnh Công Sơn, gần như chỉ dành cho chúng tôi. Tôi còn giữ lại tấm hình lưu niệm quý hiếm kèm theo trên Đó không phải là lần đầu tiên tôi gặp Trịnh Công Sơn. Tôi đã sớm về Việt Nam những năm trước đổi mới : 76, 77 và 79… Phải nói tình hình xã hội và chính trị Việt Nam hè năm 79 rất ư là căn thẳng… Báo chí quốc tế không ngớt đề cập đến ngưới Việt vượt biên, thuyền nhân… Ban Việt kiều thành phố tổ chức một buổi họp mặt, nếu tôi nhớ không lầm là tại Hội Trí thức yêu nước 43 Nguyễn Thông TP HCM. Sau tham luận của các lãnh đạo trung ương và thành phố, sau khoảnh khắc ngắn ngủi đối thoại trao đổi qua lại, cái đinh buổi họp mặt là phần văn nghệ. Nhạc sỹ Phạm Trọng Cầu vừa là nhạc trưởng vừa là MC… Hôm ấy tôi nhớ rõ nhạc sỹ Trịnh Công Sơn tự đệm ghi ta và hát bài “Em còn nhớ hay em đã quên” và một bài nữa, hình như bài “Chiều trên quê hương tôi”. Tôi nhớ rất rõ vì tôi vừa trải qua hơn một tháng 7&8 hãi hùng lang thang khắp Đông Nam Á (Thái Lan, Singapour, Mã Lai, Nam Dương) đi tìm người yêu vượt biên, để cuối cùng gặp lại nhau, như một phép lạ, ngay trên đảo Poulo Bidong, Mã Lai. Gặp lại nhau một ngày là chia tay, tôi đáp chuyến bay Thái : Kuala-Lampur - Bangkok - TP Hồ Chí Minh còn cô ấy đáp chuyến máy bay SABENA của Bỉ nhắm hướng Kuala-Lampur - Bruxelles! Đây là một cuộc hành trình khá ly kỳ mà tôi sẽ nhắc đến trong một dịp khác. Hai bài hát trên của Trịnh Công Sơn vào thời điểm ấy đã gây cho tôi một xúc động mạnh. Trịnh Công Sơn đúng là một nghệ sỹ lớn… Sáng tác của ông một lần nữa đã gắn liền với những thăng trầm của dân tộc, trái tim nhạy cảm tuyệt vời của ông đã diển tả một cách vô cùng tinh tế nỗi đau của mình mà cũng là của thế nhân, của đồng loại trên một tinh thần nhân bản trong sáng, hướng thiện nếu không nói là tích cực… Thật tài tình và sâu sắc khi ông chỉ nói giản dị “Em ra đi nơi này vẫn thế..” mà tôi đã hiểu ngay đây là thông điệp về sự vĩnh cữu của quốc gia dân tộc… Mọi việc sẽ đi qua, nhưng chỉ đất nước Việt Nam sẽ mãi mãi trường tồn… – Năm 1960 ngày tôi xuất dương sang Bỉ du học Trịnh Công Sơn chưa nổi tiếng. Các bài hát “Uớt Mi” hay “Diễm xưa” chưa được phổ biến rộng rãi. Tại Sài gòn trong thời này nhạc Phạm Duy, Lam Phương, Dương Thiệu Tước, Phạm đình Chương, Văn Phụng… đang thịnh hành trên các phương tiện truyền thông đại chúng… Sau Tết Mậu Thân (1968), không khí Việt kiều tại Bỉ, đặc biệt thành phố Liège thay đổi hẳn. Trước số sinh viên du học như chúng tôi đếm trên đầu ngón tay, nay tăng vọt đến gần năm trăm! Liège một thành phố không lớn tại Bỉ, đã bỗng chốc trở thành thành phố sinh viên Việt Nam thu nhỏ với tất cả những mâu thuẫn, lo toan, dây dứt, đau thương… của đô thị miền Nam thời bấy giờ… Phần lớn sinh viên Việt Nam là con nhà khá giả tại Sài gòn đi du học tự túc… Các sinh viên đến từ Việt Nam không ai không không mang theo những băng cassettes, kỹ thuật ghi âm đang được thịnh hành trong những năm 70… Và chính qua những băng ghi âm này, qua các bạn sinh viên trẻ, mà tôi khám phá ra hiện tượng Trịnh Công Sơn - Khánh Ly. “Ca khúc da vàng” đã đến với tôi như một tiếng thét của lương tâm con người trước cuộc chiến phi nhân, trước chết chóc, trước đau thương khôn cùng của dân Việt, trước sức tàn phá dữ dội khủng khiếp của tàu bè bom đạn của một siêu cường. Qua những âm điệu nhẹ nhàng và sâu lắng, tác giả đã gởi đến cho người nghe một thông điệp kinh hoàng của thời sự : “Xác người nằm trôi sông, phơi trên ruộng đồng trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa trong giáo đường thành phố trên thềm nhà hoang vu… Xác nào là em tôi Dưới hồ hầm này Trên những vùng lúa cháy Bên những vồng ngô khoai… » (Bài ca dành cho những xác người) Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng Hành vạn tiếng bom trút xuống ruộng đồng Cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn Hàng vạn chuyến xe, claymore lựu đạn Hàng vạn chuyến xe mang vô thị thành Từng vùng thịt xương có mẹ có em… (Đại bác ru đêm) “Kinh Việt Nam” đã đến với tôi như những lời kêu gọi hồn thiêng sông núi dân tộc Việt, như những ước vọng khẩn thiết về một ngày thanh bình thống nhất, về một nước Việt Nam bình thường như những nước khác, chan hoà tình tự dân tộc giống nòi… Tôi ý thức được ngay là một cái gì mới đã xảy ra tại Việt Nam. Một phong trào « Hát cho đồng bào tôi nghe » đã được dấy lên tại Liège và lạ thay cùng với những bài ca khác của phong trào sinh viên học sinh đô thị miền Nam, nhạc Trịnh Công Sơn đã thành một phương tiện đấu tranh của chúng tôi, những người mà lập trường chính trị đã dứt khoát đã biết và hát nhiều bài hát đến từ Miền Bắc hay vùng Giải phóng, hừng hực khí thế kháng chiến yêu nước, nhưng còn thiếu một cầu nối để đến với những thành phần còn xa chiến tuyến… Nhìn lại cục diện sau gần 40 năm, tôi vẫn nghĩ nhạc phản chiến Trịng Công Sơn là một trong những nhân tố văn hoá rất tích cực cho công cuộc vãn hồi hoà bình và thống nhất đất nước. Và tôi rất tâm đắc với ý kiến cho rằng chính những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn là mới là cơ sở nói lên tầm vóc của tài danh Trịnh Công Sơn… Và cũng chính qua những ca khúc này Trịnh Công Sơn mới được những nhà báo quốc tế biết đến và gọi anh là « một Dylan của Việt Nam ». . Âm nhạc Việt Nam qua Trịnh Công Sơn, một thời đã ngang tầm thế giới ! Và tôi tự hỏi tại sao trong thời mở cửa giao lưu hội nhập hôm nay những bài hát đậm đà tinh thân dân tộc như thế, lại vẫn « chưa được phép » hát lại ? Ở Việt Nam tôi vẫn thường nghe câu hỏi là tại sao ta chưa có những tác phẩm văn học nghệ thuật ngang tầm thế giới, xứng đáng với các cuộc kháng chiến đấu tranh giành độc lập, tự chủ thoát khỏi ách nô lệ của ngoại bang, những chiến công hiển hách đã được biết bao dân tộc yêu chuộng hoà bình và công lý kính phục và ngưỡng mộ. Nhưng có chắc gì, ta tỉnh táo đế chấp nhận và nhất tôn vinh đúng mức những tác phẫm văn học nghệ thuật chất chứa những giá trị nhân bản cao đẹp và phổ quát của con người, những tác phẩm độc lập không bị chi phối bởi tình thế chính trị nhất thời? Sinh thời TCS ý thức rất rõ về tính phổ quát của nhạc mình: “Tôi ước mơ một ngày nào đó trên hành tinh này tiếng hát sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết của nó. Đó là tiếng hát bay qua các lục địa, các đại dương, mang trong lòng nó tình yêu và tình nhân ái…” (Phát thảo chân dung tôi, tháng 4-1987). Nhạc phản chiến của TCS là hiện thực của ước mơ này vậy. Dĩ nhiên nhạc phản chiến chỉ là một trong ba chiều không gian âm nhạc đồ sộ của thiên tài TCS : tình yêu, thân phận và chiến tranh… và đã có nhiều bài viết về hai không gian còn lại : tình yêu và thân phận… Tôi chỉ thêm một chút ý kiến riêng thôi… TCS là một trong những nhạc sỹ viết nhạc tình hay nhất thế kỷ, tôi muốn nhấn mạnh ở chữ « một trong những »… Bởi vì đối với tình yêu, cái nhất là tùy ở mỗi cá nhân, ở mỗi hoàn cảnh… Nhạc tình Trịnh Công Sơn có cái gì nhẹ nhàng siêu thoát. Những cuộc tình của TCS là những dây dứt, những tiếc nuối, những cuộc tình ra ngoài tay với, không bao giờ được tận hưởng và hạnh phúc là một cái gì mong manh bàng bạc, xa vời. Những người đẹp qua âm nhạc Trịnh diễm lệ trang trọng đến độ trừu tượng, siêu thực…Nhạc tình của các tác giả nổi tiếng khác chẳng hạn như Đoàn Chuẩn, Vũ thành An, Ngô Thụy Miên, Đức Huy… theo tôi đời thường, lãng mạn hơn… Ai cũng đồng ý chất Huế là thường trực trong nhạc TCS… Nhưng tôi lại thấy chất “blues” cũng tìm tàng trong một số bài: Hạ trắng, Tình nhớ, Biển nhớ… Phải chăng TCS có phần nào bị ảnh hưỏng nhạc Mỹ da đen… Ngày TCS mất tôi đang ở TP HCM…Và có lẽ cũng như rất nhiều người Việt Nam ở mọi ngõ đường đất nước hay ở chân trời góc biển trên thế giới, tôi có cảm giác là một người thân thương vừa từ giã cõi đời… Tôi định đến nhà ông để thắp một nén hương tiễn đưa vì lòng ngưỡng mộ. Nhưng hôm ấy từ đường Điện Biên Phủ, đi xe gắn máy, không có cách chi đến được ngõ tư Phạm Ngọc Thạch… Một rừng người mênh mông như đại ngàn vô tận đã cùng chia sẻ ý này và cuồn cuộn chảy về con đường này… Tôi bỏ xe bên vệ đường mon men tìm đến số 47 C thì đã quá muộn. Chiếc xe chở quan tài đã chuyển bánh, tiếng kèn “saxophone” tiễn đưa của Trần Mạnh Tuấn đã vang lên và tôi đành hoà mình vào đoàn người chảy xiết theo hướng Gò Dưa… Sinh thời tôi chưa bao giờ nghe nói TCS là nghệ sỹ nhân dân. Nhưng chính quần chúng nhân không phân biệt thành phần, lớp người, lứa tuổi, không phân biệt Bắc Trung Nam, không phân biệt trong nước hay hải ngoại, đã chọn thiên tài Trịnh Công Sơn là nghệ sỹ số một của mình… Riêng tại Bỉ sau ngày nhạc sỹ mất đã có hai đêm liên tiếp hát nhạc Trịnh Công Sơn, ai cũng hát và nhạc cụ vỏn vẹn chỉ cần chiếc ghi ta! Theo tôi lời khen tặng ưu ái nhất mà tôi được đọc về TCS chính là của Khánh Ly: “Bởi vì ở ông TCS, điều vĩ đại nhất, vĩ đại hơn cả những tác phẩm của ông là nhân cách, nhân phẩm của ông. Ông là người duy nhất đã sống trong đời này có một tấm lòng không có thù hận”. (Khánh Ly, “Những lời tử tế ông Sơn dạy tôi”, Trường Kỳ phỏng vấn, Hoàng Trúc Ly sưu tầm, www.suutap.com/khanh ly). Vâng, tôi cũng biết Trịnh Công Sơn, dù chỉ một thoáng ngày Tết năm xưa. Và hôm nay tôi xin ghi lại những dòng này, gọi là xác định lòng ngưỡng mộ khôn cùng của tôi… Nguyễn-Đăng Hưng, cuối tháng 3 2005
Attachment: Goi ten 4 mua_TCS.mp3
Nhà thơ Hữu Loan một giá trị phản biện Hữu Loan vĩnh viễn ra đi để lại biết bao hoài niệm về một giai đoạn dài của văn hóa và lịch sử dân tộc. Một giai đoạn điêu linh, tang tóc, chia ly, với ngút ngàn thống khổ mất mát, băng hoại. Chín mươi lăm năm dài một đời người, một khí phách, một con người! Đối với tôi, thơ của Hữu Loan là một phản biện văn học có tính nhân văn cao cả, cuộc đời của Hữu Loan là một phản biện lịch sử có sức thuyết phục vào bậc nhất. Hãy nghe ông bộc bạch: “Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng… Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?” Té ra Hữu Loan chỉ đòi quyền làm người, làm người bình thường, làm nhà thơ chân thật, làm công dân chân chính xứng đáng! Chỉ có thế ấy thôi mà ông đã phải trả giá cho đến tột cùng: “Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…” Sau này trong giai đoạn đổi mới, chính sách có thay đổi, chế độ đối với các vân nghệ sỹ có cải tiến: văn tịch được phục hồi, cho giải thưởng vân vân… Nhưng tôi vẫn chưa bao giờ đọc được một lời sám hối chính thức… Ba mươi năm trù dập khủng bố chẳng có một lời phân trần xin lỗi dù có những điều kiện lịch sử để những lời xin lỗi này có chỗ để dân chúng cảm thông. Và bởi vì chẳng có sửa sai từ lỗi hệ thống cho nên cơ chế vẫn duy trì và thỉnh thoảng những vụ trù dập lạm quyền cục bộ vẫn hiện về như những bóng ma ám ảnh của quá khứ: vụ “Cánh đồng bất tận” ở Cà Mâu, vụ giải thưởng tạp chí Văn Nghệ Quân Đội trao cho bài thơ “Thời đất nước gian lao” và mới đây vụ bài thơ “Trăng nghẹn” của cuộc thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long. Ấy thế mà cứ than thở mãi: ta chưa có những tác phẩm văn học đạt giải thưởng quốc tế nói lên tầm vóc của hai cuộc kháng chiến! Làm sao có được những tác phẩm lớn chuyên tải tính nhân văn chân chính, những giá trị bất biến tự nhiên của con người khi ngay từ trứng nước, những tác phẩm thuộc loại này, những tác phẩm không phục vụ lợi ích nhất thời và phe phái cục bộ, cứ liên tục bị trù dập phủ phàng, không thể có chỗ đứng rộng rãi trong lòng dân tộc… Màu tím hoa sim Hữu Loan Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến binh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê… Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói không được trông nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa… Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường đông bắc Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí Chiều hành quân Qua những đồi hoa sim Những đồi hoa sim những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau Chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tím tím thêm màu da diết Nhìn áo rách vai Tôi hát trong màu hoa Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím Tôi ví vọng về đâu Tôi với vọng về đâu Áo anh nát chỉ dù lâu… (1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)  The Winner Takes It All ABBA A I don’t wanna talk E about the things we’ve gone through Bm Though it’s hurting me, E now it’s history A I’ve played all my cards, E and that’s what you’ve done too Bm Nothing more to say, E no more ace to play A The winner takes it all, E7 the loser standing small Bm Beside the victory E that’s her destiny A I was in your arms, E thinking I belonged there Bm I figured it made sense, E building me a fence A Building me a home, E thinking I’d be strong there Bm But I was a fool, E playing by the rules A The gods may throw a dice, Fm7 their minds as cold as ice Bm And someone way down here E loses someone dear A The winner takes it all, E7 the loser has to fall Bm It’s simple and it’s plain E why should I complain? A But tell me does she kiss E like I used to kiss you? Bm Does it feel the same, E when she calls your name? A Somewhere deep in-side, E you must know I miss you Bm But what can I say? E Rules must be obeyed. A The judges will decide, E7 the likes of me abide Bm Spectators of the show, E always staying low A The game is on again E7 a lover or a friend Bm A big thing or a small E the winner takes it all A E if it makes you feel sad Bm And I understand E you’ve come to shake my hand A I apologize E if it makes you feel bad Bm Seeing me so tense E no self-confidence A But you see, the winner takes it all (Repeat to fade-out) Bm The winner takes it all… A… *********** Người về cướp mất của tôi Nguyễn Đăng Hưng đặt lời Việt A Chuyện nên nói hay đừng E Về những ngày buồn đã xảy ra Bm Nỗi đau tôi phải trải qua E Nay có nào ngui ngoai A Tôi đã sống hết mình E Và anh cũng phải thế thôi Bm Nói thêm gì nữa đây E Khi mình đã trắng tay A Người về cướp mất của tôi E7 Cuộc tình tôi đứng đơn côi Bm Nào ngờ kẻ mới qua đây E Là người đã thắng hôm nay A Êm đềm ơi những ngày E Cuộc đời sát cánh bên anh Bm Hình dung đã có trời xanh E Và rào chắn chung quanh A Cùng xây một mái nhà E Cùng chung cuộc sống vui Bm Nhưng đây chỉ còn giấc mơ E Vì tôi đã quá ngu ngơ A Trời lành sao quá phụ tôi, Fm7 Lạnh lùng đánh mất lứa đôi Bm Đành lòng cắt đứt yêu thương B Nay chỉ còn dư hương A Người về cướp mất của tôi E7 Cuộc tình chỉ có thế thôi Bm Chỉ còn nuớc mắt đêm thâu E Rồi đây sẽ về đâu? A Hỏi thật lòng anh chút này E Trong những ngày mới qua đây Bm Anh có thấy gì hơn, E Khi người ấy bên anh? A Vì rằng qua tháng ngày, E Lòng tôi vẫn mong anh Bm Biết nói gì hôm nay? E Khi tình đã qua tay ?. A Và toà sẽ phán quyết thôi E7 Và đời rồi sẽ nổi trôi Bm Và mình dù sẽ ra sao E Chì còn là chiêm bao A Giòng đời cũng sẽ trôi đi E7 Người tình hay kẻ thâm giao Bm Chìm gần hay sẽ bay cao E Trở về lại có mấy khi ? A E Vì có làm anh không vui Bm Và tôi đã hiểu thôi E Anh về chỉ hỏi thăm tôi A Và anh nếu phật lòng E Xin hãy tha thứ cho tôi Bm Vì tôi quá đơn côi E Còn đâu nữa tin yêu A Vậy một lời, Người về cướp mất của tôi (Lặp lại tắt dần) Bm Người về cướp mất của tôi… A… 
Thư tình ngày Xuân Em yêu dấu của anh, Năm nay là năm con cọp, đọc báo chí nghe nói người dân Việt Nam đã né tránh, tổ chức sinh con non tháng để tránh tuổi con cọp, nhất là phải chờ đợi sinh con gái! Em có tuổi con cọp, một con giáp “nguy hiểm” như vậy mà anh đã “dám” lấy em là vợ! Thật ra anh cũng chẳng có gì để phải “can cường” đến vậy. Anh chỉ vốn chẳng bao giờ tin ở số tuổi, ba má anh chẳng may mất sớm, bà con ở xa nên chẳng ai nhắc nhở gì theo hướng ấy! Anh chẳng những đã “dám mạo hiểm” mà còn thấy mình là người may mắn nhất trần gian, đã được em yêu ngay từ giấy phút đầu tiên và em đã dám vượt trùng dương, trải qua những giờ phút hãi hùng nhất trên biển khơi để tìm đường tái hợp cùng anh, chung đời chung sức có nhau trên đất khách! Thực ra người “dám mạo hiểm” chính là em, người có tuổi con cọp chứ chưa chắc phải là người có tuổi con rồng như anh! Trong những ngày gần đây sống ở Sài Gòn, những ngày chờ Xuân đón Tết, đất trời như có gì trăn trở, lắng sâu, anh hay liên tưởng đến em, đến cuộc sống bên nhau, đến những bước thăng trầm của cuộc đời vội vã. Nhìn hình em treo trên tường và mở lại cuốn album hình ảnh những kỷ niệm đã qua, anh cứ thầm bảo mình là người có nhiều may mắn ở đời này! Và cái diễm phúc nhất là đã gặp được em và đã có em bên cạnh từ bấy lâu nay! Nếu phải khách quan xác định lại phần cống hiến của bản thân anh cho hạnh phúc chung, có lẽ anh sẽ thỏ thẻ với riêng em là anh đã không bõ lỡ mất cơ hội, cả những cơ hội mong manh nhất mà cuộc đời đã đem lại cho anh. Ngày ấy mồng một Tết, ngày hòa bình trở về trên quê hương, anh về lại thăm đất nước sau 16 năm xa cách, em đi dâng hương, từ khói hương bước ra với chiếc áo dài kiêu sa, lộng lẫy. Tà áo ấy đã làm anh trong phút giây phải thần thờ ngây ngất! Cũng như mọi năm ngày Tết ở một mình tại Sài Gòn, anh xuất hành du xuân bằng cách lên Lăng Ông Bà Chiểu thắp hương. Anh muốn nhớ lại cái ngày ấy, ngày mồng một Tết Bính Thìn 1976, Trời Phật, thánh thần đã đưa đẩy cho anh gặp em, chỉ mấy giây thôi mà sau đó ta đã trở thành vợ chồng. Và rồi có khi vời vợi trông chờ nhau, có khi quấn quít bên nhau, thấm thoắt đã 34 năm rồi! Trong 34 mùa xuân hạnh phúc ấy, đâu phải lúc nào cũng phẳng lặng như mặt nước hồ thu phải không em? Cũng đã có những đợt sóng, những giây dứt, những thần thờ, những ngày tháng anh có làm em ngỡ ngàng thất vọng… Cũng có lúc ta tưởng chừng như tương lai không còn nữa ở phía trước, như lối quanh đang rình rập ta sẽ phải bắt ngang. Cũng có giai đoạn, những khó khăn của cuộc sống làm ta ngại ngùng phập phòng dấng bước. Nhưng bây giờ nhìn lại, đó chẳng qua là những thách thức bình thường của cuộc đời muôn mặt và tình yêu chân thật cuối cùng đã vượt qua tất cả. Những ngày tháng hôm nay, anh bước vào khoản thời gian thứ ba của kiếp người, tuổi tác đã ở lúc cổ lai hy, không phải tham gia tích cực vào những lo toan cơm áo gạo tiền. Anh đang nghỉ hưu, thời gian có thể dùng nhiều hơn cho mình và cho gia đình. Cũng như vậy mà anh có cái nhìn bao quát hơn về cuộc đời trải qua, có thời gian để chăm sóc khu vườn riêng, những hoa lá chung quanh căn nhà ta mới xây tại quê nhà, khu vườn tinh thần mà chúng ta đã cùng nhau vun xới trong khoản thời gia dài chung sống bên nhau. Càng lui lại đứng ra xa và cao hơn để nhìn lại cuộc đời của chính mình để kiểm nghiệm lại quá khứ, nghĩ đến những thang bậc đã đi qua, những bè bạn thân thích năm châu mà anh có điều kiện quen biết và kết thân, người đồng hương cũng như người ngoại quốc…, anh mới ngộ ra rằng, suy cho cùng người bạn thân thiết nhất của anh, hiểu anh rõ nhất, chia sẻ với anh nhiều nhất không ai khác chính là em! Em đã và đang là người tình, người bạn, người vợ, niềm an ủi và lẽ kiêu hảnh nhất của đời anh! Năm nay mồng một Tết lại trùng với ngày Lễ Hội tình yêu, anh lại đi viếng Lăng Ông Bà Chiểu. Anh lại đứng bên bức tường chung quanh nhìn vào chính điện từ đó ngày xưa em đã bước trong khói hương. Ngày ấy anh đã nghe như văng vẳng bên tai: “Hãy nhanh bước ra trực diện cùng nàng, đừng để nàng đi mất hút”. Anh đã làm theo lời dạy bảo ấy và kết quả em biết thế nào sau đó. Lần này đứng thẩn thờ mường tượng đến hình bóng cũ đã 34 năm qua, bất chợt anh lại nghe đồng vọng từ xa: “Rồi cơn bạo bệnh của nàng sẽ qua, con đường đi chung trước mặt vẫn còn dành cho nàng và cho mình, một đoạn dài thêm nữa”. Không bao lâu ngày nữa, anh sẽ trở sang Bỉ cùng đi với em trên con đường hạnh phúc tuyệt vời mầu nhiệm ấy! Hạnh phúc không bao giờ dừng lại chờ ta, muốn nắm bắt nó ta phải tiến bước cùng đi chung với nó! Sài Gòn mồng 10 Tết Canh Dần 2010 
Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa trong bối cảnh ngàn năm Thăng Long, thử đặt lại vài giả thuyết TSKH Nguyễn Đăng Hưng Giáo dư danh dự thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ Một tiết mục đáng chú ý tại TP HCM trong dịp Tết Canh dần vừa qua là Lễ kỷ niệm 221 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa do Sở Văn hóa - Thể thao và Du Lịch TPHCM tổ chức tại Công viên Tao Đàn ngày mồng năm 18/2/2010. Buổi lễ đã được tổ chức long trọng với sự tham dự các ông Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Lê Hoàng Quân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn viên thanh niên cùng đông đảo người dân thành phố và du khách nước ngoài. Ông Dương Quan Hà, Chủ tịch Ủy ban MTTQ TPHCM đã có bài phát biểu đáng được lưu ý. Chương trình sân khấu hóa đã diễn ra sôi nổi với phần biểu diễn nghệ thuật dân tộc đặc sắc của các nghệ sĩ Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang. Đọc báo tôi cũng thấy một buổi lễ tương tự cũng được tổ chức tại Gò Đống Đa, Hà Nội. Đến tham dự thắp hương trước tượng đài Quang Trung có Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Công Soái, Phó Chủ tịch UBND TP Phí Thái Bình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, thứ trường Bộ Quốc Phòng, ông Vũ Trọng Kim, Phó Chủ Tịch kim Tổng thư ký Mặt Trận Tổ Quốc. Thành phần và cấp bực tham gia của Thành ủy và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội có phần thấp hơn, kém long trọng hơn tại TP HCM. Việc thành ủy TP HCM coi trọng ngày kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa hơn thành ủy Hà Nội là điều làm tôi chú ý! Ngay tại thủ đô, người (lãnh đạo) Hà Nội cảm nhận lịch sử không bằng người Sài Gòn chăng? Lẽ ra năm nay, trong dịp lễ hội ngàn năm Thăng Long, lễ hội Gò Đống Đa phải có gì nỗi trội hơn thường lệ mới phải chứ? Thật vậy, nếu không có anh hùng dân tộc Quan Trung - Nguyễn Huệ và chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa thì làm gì Thăng Long còn là của Việt Nam để năm nay chúng ta ăn mừng thủ đô ngàn năm? Đừng quên cuộc xăm lấn Đại Việt năm 1788 là cuộc xâm lấn bành trướng cuối cùng của phong kiến Trung Hoa và nếu Nguyện Huệ đã chọn hướng giải quyết khác đi thì lịch sử và địa lý của dân tộc Việt Nam ngày nay sẽ ra sao? Chính sử Việt Nam ghi lại năm ấy mượn cớ vua Lê Chiêu Thống cầu viện, nhà Thanh đã giao cho Tôn Sỹ Nghị một đạo quân đông đảo gần 30 vạn, ào ạt kéo vào nước ta chiếm đóng Thăng Long. Thế yếu, các tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm rút về Tam Điệp cố thủ và bảo toàn lực lượng. Trong Nam Nguyễn Ánh đã gia tăng được lực lượng sẳn sàng uy hiếp Qui Nhơn trong lúc Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc lâm trọng bệnh. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trên thực tế chỉ kiểm soát được một vùng lảnh thổ khá hẹp thừ Thuận hóa đến Nghệ An, trong tay huy động chưa có được 1/10 quân số nhà Thanh đang xâm lược Bắc Hà! Thử tường tượng vì thế yếu Nguyễn Huệ chọn một hướng khác, trước vận mệnh hiễm nghèo của đất nước, làm ngơ trước đoàn “quân lạ” đang xâm nhập miền Bắc, quá đông, quá hùng hỗ. Nguyễn Huệ chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhà cầm quyền, chỉ lo đương đầu với Nguyễn Ánh ở Gia Định và Nguyễn Nhạc trong Nam, sau đó chọn giải pháp thúc thủ, giao lại đất Thanh Hóa Nghệ An cho nhà Thanh và vua Lê Chiêu Thống, tóm lại chỉ lo mưu cầu chiếc ghế vương quyền tại phương Nam. Như vậy lịch sử và địa lý Viêt Nam sau này sẽ ra sao? Nước ta có lẽ chỉ còn lại từ sông Gianh cho đến Hà Tiên khi người Âu sau này bắt đầu xâm nhập vào Đông Nam Á! Giả thiết này có tính khả thi cao khi ta biết, ngoài Bắc vua Lê Chiêu Thống đã phản bội tổ quốc dùng niên hiệu nhà Thanh mặc nhiên công nhận nền đô hộ của người Tàu. Trong Nam lịch sử còn nghi lại từ Gia Định cũng năm 1788, Nguyễn Ánh đã gởi đoàn thuyền chở gạo ra Bắc chi viện cho quân nhà Thanh mà không thành vì gặp bão. Ông vua sáng lập ra triều đình nhà Nguyễn này có nhiều khả năng cũng sẽ để yên cho nhà Thanh ở đất Bắc sau khi lấy lại giang sơn từ tay nhà Tây Sơn vì chẳng may cho dân tộc Việt, người anh hùng áo vải sẽ phải mất sớm. Nếu lịch sử đã theo hướng đó thì làm gì ta còn Thăng Long mà tổ chức lễ hội ngàn năm như ngày nay? May thay, Nguyễn Huệ, được sự trợ giúp tư vấn của tầng lớp sỹ phu chân chính lúc bấy giờ, những Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã chọn lựa hướng khác, hướng chính danh yêu nước thương dân, hướng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc: Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, minh định chính danh, cũng cố chính nghĩa dân tộc, theo lẽ trời, thuận lòng người, thống nhất ý chí toàn dân toàn quân, tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra Bắc đánh giặc Thanh, chấp nhận lấy một chọi mười: “Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thời Nhiệm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa.” Chúng ta biết phần còn lại của lịch sử, số phận của người anh hùng bách chiến bách thắng Quan Trung – Nguyễn Huệ. Sau mồng năm Tết Kỷ Dậu 1789, Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt như sau: “Mây tạnh mù tan trời lại sáng Đầy thành già trẻ mặt như hoa, Chen vai khoác cánh cùng nhau nói: “Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta” Tại buổi họp báo đầu năm nay (6/1/2010) ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã thách thức cả dân tộc Việt : “hợp tác (với Trung Quốc) sẽ phát triển, (Việt Nam) đấu tranh sẽ thất bại”, thiết nghĩ việc tổ chức cho thật long trọng Lễ Hội Chiến Thắng Ngọc Hồi – Đống Đa là điều nên làm. Thật vậy, hình như ngài Đại Sứ quên rằng cách đây 221 năm dân tộc Việt Nam nào có thất bại khi phải bắt buộc chấp nhận hướng đấu tranh dù phải một chống mười! Sài Gòn mồng bảy Tết Canh Dần 2010 
Love Me With All Your Heart (1961)
Phát xuất từ ca khúc Tây Ban Nha “Cuando calienta el sol” do Carlos Rigual, Mario Rigual và Carlos Martinoli sáng tác năm 1961. Nhiều ca sỹ đã thâu âm, nỗi tiếng nhất là Ray Charles, Engelbert Humperdinck và Petula Clark.Love C me with all of your heart Am that’s all I want Em, love Love F me with all of your heart G7, or not at all C Just Dm promise me this G7 that you’l give C me all your kisses Am Ev’ry win Em ter, ev’ry sum F mer, ev’ry fall G7 When C we are far apart Am, or when you’re Em near me Love F me with al of your heart G7, as I love you C A7 Don’t Dm give me your love G7 for a mo C ment, for an hour Am Love me al Em ways as you loved F me from the start G7 With G7 ev’ry beat of your heart C ……. Just Dm promise me this G7 that you’l give C me all your kisses Am Ev’ry win Em ter, ev’ry sum F mer, ev’ry fall G7 When C we are far apart Am, or when you’re Em near me Love F me with all of your heart G7, as I love you C A7 Don’t Dm give me your love G7 for a mo C ment, for an hour Am Love me al Em ways as you loved F me from the start G7 With G7 ev’ry beat of your heart C With G7 ev’ry beat of your heart C Yêu em với tất cả con tim Lời Việt : Nguyễn Đăng Hưng Yêu C em với tất cả con tim Am mà em ước mong Em, và, Yêu F em với tất cả con tim G7, mà em thiết tha C Hãy Dm hứa với em rằng G7 từ nay đôi C ta gần nhau quấn quít Am cùng nhau gắn Em bó, tình yêu chan F chứa, dài năm tháng G7 Khi C phải đi xa, anh ơi Am, đừng quên Em có em. Khi F phải lo toan cho tương lai, G7, mình tay nắm tay C A7 Không Dm chỉ phải một ngày G7 chỉ một đêm C thôi, mà trăm năm dài Am Mà mãi mãi Em như tình sét đánh F như tình duyên kiếp G7 Như G7 ngày ta mới thuộc về nhau C …… Hãy Dm hứa với em rằng G7 từ nay đôi C ta gần nhau quấn quít Am cùng nhau gắn Em bó, tình yêu chan F chứa, mãi là thế G7 Khi C phải đi xa, anh ơi Am, đừng quên Em có em đây. Khi F phải lo toan cho tương lai, mình G7, tay nắm tay C A7 Không Dm chỉ phải một ngày G7 chỉ một đêm C thôi, mà trăm năm Am Mà mãi mãi Em như tình sét đánh F như tình duyên kiếp G7 Như G7 ngày ta mới thuộc về nhau C Như G7 ngày ta mới thuộc về nhau C 
Về các giải pháp cải tiến tình trạng GD&ĐT và nghiên cứu khoa học hiện nay tại Việt Nam ***** Đề dẫn : Nhân dịp tân niên 2010 ngày 8/1/2010 báo Tiếng nói Việt Nam (VOVNIEWS) có phỏng vấn tôi qua e-mail về đề tài trên. Sau đó nhà báo có biên tập lại thành bài “Chuyện một GS Việt kiều” mà tôi vừa đăng tải lại trên blog này ngày 22/1/2010 vừa qua. Nay xin đăng tải nguyên văn bài phỏng vấn gọi là tài liệu cá nhân. NĐH Nhà báo: 1) GS - TS đã từng học và tham gia giảng dạy tại trường đại học nước ngoài. Theo GS, cách dạy học tại các trường đại học Việt Nam và các trường đại học ở các nước tiên tiến trên thế giới có những điểm khác biệt cơ bản nào? GS Nguyễn Đăng Hưng Khác nhau nhiều lắm. Phải nhiều giấy mực mới có thể kể ra hết. Trong khuôn khổ một bài phỏng vấn cho số Tết, tôi xin nói ngắn gọn, chú ý đến những nét quan trọng nhất. Trước nhất cái khác đầu tiên là quan niệm về triết lý giáo dục. Ở các nước Âu Mỹ người ta quan niệm trường Đại học là cơ sở vì lợi ích toàn dân, là địa bàn để truyền bá tri thức và nghiên cứu khoa học một cách khách quan vô tư, độc lập vớt mọi màu sắc chính trị. Nghiên cứu và quảng bá khoa học chân chính để tri thức được hiện đại hóa liên tục phù hợp với yêu cầu của phát triển của xã hội. Bởi vì vậy việc bổ nhiệm người thầy, việc chọn lựa nội dung giáo trình, việc tổ chức thi cử luôn luôn phải hướng đến mục tiêu ban đầu này: đào tạo một lớp người có trình độ, có nhân cách, có kỷ năng thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiển của xã hội. Còn ta thì rất nhọc nhằn, lẫn lộn giáo dục với tuyên truyền, ta khiên chính trị vào học đường, chương tình giáo khoa thì rườm rà dầy đặt mà nghiên cứu khoa học thì không coi trọng đúng mức, lại đề cao hình thức hơn nội dung, đặt nặng lượng hơn chất, chạy theo thành tích, sính bằng cấp, mê chức danh… Sự khác biệt căn bản này là nguyên do sâu xa nhất của sự tụt hậu trầm trọng của các Đại học Việt Nam. Ta loay hoay mấy chục năm nay mà chưa vực lên được vì ta chưa chấp nhận một cách rốt ráo điểm mấu chốt này. Trên ba bốn thập kỷ qua ta ngoảnh mặt với thực tế, ta chỉ lưu ý đến những trang báo cáo siêu thực đầy rẫy những thành tích ảo. Tình trạng kéo dài qua nhiều thế hệ vì thiếu tri thức phản biện đa chiều, để rồi ta lẫn lộn ảo với thực. Nay hội nhập vào thế giới phẳng khốc liệt của thực tế toàn cầu, thế giới của cạnh tranh kinh tế công nghệ kỷ thuật gay gắt, ta mới giựt mình dần dần mở mắt nhưng có hơi muộn. Như vậy cái khó khăn hiện nay của giáo dục Việt Nam là do lịch sử để lại, do tư duy chệch hướng của thời bao cấp. Muốn theo kịp các nước tiên tiến, không có cách nào khác ngoài việc triệt để đổi mới tư duy. Căn bệnh trầm kha di căn cần những liều thuốc kịch liệt liên quan đến toàn bộ hệ thống giáo dục, không thể chửa trị bằng thuốc xức ngoài da như hiện nay… Nhà báo: GS đã từng nói, việc tổ chức nghiên cứu khoa học tại Việt Nam đã đi chệnh hướng lâu hàng mấy thập kỉ. Theo GS để lái con tàu đi đúng hướng, việc cấp thiết cần làm hiện nay là gì? GS Nguyễn Đăng Hưng Thú thật tôi thường dị ứng với các báo cáo kiểu vẽ vời vô thưởng vô phạt: về khoa học ta có những thành tựu nhất định… nhưng ta còn phải phấn đấu nhiều hơn trong những năm tới, vân vân… Hãy đọc báo cáo của ĐH Harvard về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam: Số bằng sáng chế của VN là 0 trong năm 2006 trong lúc của Mã Lai là 147 Thái Lan là 158, Singapore là 995, Hàn Quốc là 102.663… Người ta khách quan vô tư, người ta nói thẳng, ta phải cảm ơn họ ! Như vậy ta mới ý thức được mức độ trầm trọng của nền khoa học Việt Nam. Các cơ quan hữu hữu trách phải ý thức rõ ràng nỗi đau này may ra mới có cơ may thoát lên cho tương lai. Con người Việt Nam, đặc biệt tuổi trẻ Việt Nam thích ứng rất nhanh với khoa học tiên tiến. Chỉ nhìn con em ta ra nước ngoài, vào được các trường cao cấp quốc tế, xem họ học hành nghiên cứu khoa học thanh tích ra làm sao thì sẽ thấy ngay. Vấn đề mấu chốt là tạo dựng cho được một môi trường mà tinh thần khoa học thực thụ được gieo trồng và dinh dưởng. Vấn đề tiên quyết là có được những cơ sở nghiên cứu khoa học mà người đứng đầu là những đầu tàu có trình độ quốc tế thực thụ, có thâm niên kinh nghiệm nghiên cứu khoa học. Thứ đến là dần dần gầy dựng điều kiện vật chất, phòng thí nghiêm máy móc, phương tiện làm việc. Làm sao tập hợp được loại người này làm sao xử dụng được thứ chất xám quý giá này? Ở đây cần quyết tâm chính trị, trình độ và nghệ thuật lãnh đạo. Ở đây yếu tố Việt kiều là rất cần thiết: ai là người có kinh nghiệm lâu năm cọ xát với nghiên cứu khoa học, cạnh tranh công nghệ quốc tế? Nhà báo: Việt Nam có đến 8.000 GS - TS nhưng số bằng sáng chế của VIệt Nam năm 2006 bằng không. Hình như là việc phong tặng GS - TS ở Việt Nam đang có vấn đề có đúng không thưa GS? GS Nguyễn Đăng Hưng Chính đó là tình trạng đáng buồn của đội ngủ giáo chức đang giảng dạy tại Việt Nam. Cũng phải nói rõ thêm trong đội ngủ này không phải là không có những cá nhân thật sự giỏi. Nhưng vì nằm trong một môi trường mà thực học không được đề cao, nghiên cứu khoa học không được tổ chức có qui củ, nghiên cứu khoa học còn trong vòng khép kín, lẩn quẫn trong sân nhà không có điều kiện vươn ra bên ngoài thì hậu quả tất yếu là bằng sáng chế không lộ ra được trên bình diện quốc tế! Hiện nay Bộ GD&ĐT phần nào đã thấy những điểm yếu trong việc phong tặng chức danh GS.TS nhưng theo tôi biện pháp cải tiến vẫn còn rụt rè chưa thực sự đột phá dứt khoát! Danh hiệu GSTS vẫn còn là một học hàm chưa gắn liền với chức năng giảng dạy và nghiên cứu khoa học thực sự. Phần lớn các GSTS đi làm chính trị hay làm quản lý, chỉ một thiểu số làm nhiệm vụ đích thực của mình là thường trực có mặt trên bục giảng hay trong phòng thí nghiệm. Nhà báo: Xin giáo sư đánh giá về những tồn tại trong các cơ sở nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay? GS Nguyễn Đăng Hưng Ngoài tình trạng tụt hậu chung, tại Việt Nam vẫn còn tồn tại một điểm yếu qua trọng nữa là việc ta còn tách rời các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học và các trường đại học. Người đi dạy tất bật chạy sô, không có thì giờ dành cho nghiên cứu, người có điều kiện nghiên cứu thì không phải đi dạy. Kết quả là giáo trình giảng dạy không được hiện đại hóa kịp thời nhờ ở những kết quả nghiên cứu khoa học và những kết quả này nếu có lại không được phổ biến để có sự tiếp nối của lớp trẻ. Đây là lảng phí khó có thể chấp nhận cho một nước còn nghèo như nước ta. Nhá báo: Theo giáo sư, đội ngũ Việt kiều trí thức có vai trò như thế nào trong việc chuyển giao khoa học công nghệ? GS Nguyễn Đăng Hưng Như đã nói ở trên để thay đổi cục diện ta cần những đầu tàu có thực chất, có tẩm cỡ quốc tế. Theo muốn có đột phá cần phải rà soát hiện trạng, thay thế nhân sự. Đây là hướng giải quyết đòi hỏi quyết tâm chính trị cao. Anh không thể là đầu tàu nếu qua quá trình có kỳ hạn, anh không thể hiện được khả năng qua những báo cáo khoa học, những công trình được công bố trên những tạp chí quốc tế, những bằng phát minh được giới khoa học thừa nhận, những hướng dẫn nghiên cứu thành công. Anh phải nhường chỗ cho người khác, cho lớp trẻ được đào tạo từ các nước tiên tiến. Một người trẻ làm đầu tàu không những phải có bằng tiến sỹ, có công trình khoa học mà còn phải có kinh nghiệm cọ xác với môi trường khoa học công nghệ quốc tế qua thời gian dài nghiên cứu hậu tiến sỹ. Thành phần này hiện nay còn hiếm ở Việt Nam và đào tạo thành phần này cần ít ra chung quanh mười năm sau đại học. Muốn đi nhanh, muốn đi tắt, nhất là những lĩnh vực mủi nhọn ta phải dựa vào chất xám Việt kiều. Chiến tranh gây bao nhiêu ly tan cho người Việt và người Việt đã phải lưu lạc khắp năm châu bốn biển. Hiện nay trên thế giới có đến trên 300 000 người Việt được đào tạo bài bản đang làm việc tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu, các phân xưởng, các nhà máy tiên tiến trên thế giới. Họ thường xuyên cọ xát với môi trường khoa học công nghệ có cạnh tranh gay gắt nhất. Đây là cơ may cho dân tộc khi yêu cầu công nghệ hóa và hiện đại hóa đất nước được đưa lên là mục tiêu phấn đấu cho những thập niên sắp đến. Vấn đề là phải thu hút được họ, vấn đề là tạo điều kiện để họ tự giác tự nguyện tham gia công cuộc phát triển đất nước, không phài vài cá nhân rời rạc mà hàng loạt. Làm được việc này chính là đi tắt đón đầu… Đã gần 6 năm rồi nghị quyết 36 ra đời với nhiều kỳ vọng ban đầu. Nhưng cho đến hôm nay việc triển khai thực hiện vẫn chung quanh mấy chữ chưa có gì ngoài những khẩu hiệu thường bắt gặp! Nhưng đây là một vấn đề khác, tế nhị, phức tạp và gay cấn vì có yếu tố chính trị. Tôi mong sẽ được đề cập vào một bài phỏng vấn khác dài hơi hơn… TP. HCM ngày 08/01/2010 
Hội Nghị toàn cầu về Cơ học tính toán, Bắc Kinh 2004 Chuyện một giáo sư Việt kiều http://vovnews.vn/Home/Chuyen-mot-giao-su-Viet-kieu/20101/132685.vov http://www.conduongthanhcong.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1147&Itemid=35 http://www.vnteen360.net/bai-hoc-thanh-cong/gs-ts-nguyen-dang-hung-1-trong-10-nguoi-nuoc-ngoai-da-lam-thay-doi-nuoc-bi/ http://vietbao.vn/Nguoi-Viet-bon-phuong/Chuyen-mot-giao-su-Viet-kieu/327249073/284/ Với những đóng góp trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ông là một trong những gương mặt Việt kiều đã góp phần làm rạng danh đất nước. Bạn bè trên thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn qua cái tên quen thuộc: GS.TS Nguyễn Đăng Hưng. Đào tạo hơn 300 thạc sĩ trình độ quốc tế GS.TS Nguyễn Đăng Hưng sinh năm 1941, là người con của vùng đất Quảng Nam. Sinh ra ở một vùng quê hiếu học, cậu bé Hưng luôn là một học sinh xuất sắc. Năm 1960, nhờ đỗ tú tài xuất sắc cả ban toán và ban văn, Nguyễn Đăng Hưng nhận được học bổng ngành kỹ thuật của Vương quốc Bỉ trao tặng. Đi du học tại một đất nước có nền khoa học, công nghệ phát triển, Nguyễn Đăng Hưng luôn làm bạn bè và các giáo sư trong trường đại học thán phục bởi lòng ham học và tính sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Năm 1966, Nguyễn Đăng Hưng tốt nghiệp đại học, được giữ lại giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Liège, trở thành một trong những nhà cơ học xuất sắc của thế giới và giành được nhiều giải thưởng quốc tế uy tín. Tuy xa cách quê hương nhưng tấm lòng của ông luôn hướng về đất nước. Khi đất nước còn trong chiến tranh, ông đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Năm 1977, theo lời mời của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước Việt Nam (tiền thân của Bộ Khoa học - Công nghệ), giáo sư Hưng có dịp được về giảng dạy hai tuần tại Đại học Giao thông - Vận tải Hà Nội. Về giảng dạy tại quê nhà, ông nhận thấy Việt Nam vừa trải qua chiến tranh, rất thiếu nguồn nhân lực xây dựng đất nước. Bằng uy tín và các mối quan hệ của mình, năm 1990, ông đã thuyết phục được các nhà tài trợ nước ngoài và các đối tác châu Âu giúp đỡ tài chính cho chương trình đào tạo liên đại học mang tên: “Thạc sĩ Âu Châu về cơ học xây dựng” (EMMC) tại TP. Hồ Chí Minh. Ba năm sau là một chương trình tương tự - “Thạc sĩ Âu Châu về mô phỏng và thiết kế trong kỹ thuật” (MCM) tại Hà Nội.
Các chương trình đào tạo sau đại học được xây dựng theo tiêu chuẩn Châu Âu và được đại học Liège cấp bằng. Những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc còn được nhận học bổng tiến sĩ ở Châu Âu, Canada, Australia, Nhật Bản… Tính đến khi chương trình đào tạo này chấm dứt (tháng 9/2008), giáo sư Hưng đã góp phần đào tạo tại chỗ 318 thạc sĩ và 20 tiến sĩ cho đất nước, chưa kể trên 50 người còn tiếp tục theo học ở nước ngoài. Ngoài ra, ông còn là thành viên Ban điều hành và Điều phối viên của Đề án Hợp tác đào tạo tiến sĩ một số chuyên ngành kỹ thuật tại Châu Âu dưới hình thức đồng hướng dẫn bằng ngân sách Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2003 - 2008. Trước tình trạng bờ biển Việt Nam bị xâm thực nghiêm trọng bởi sự thay đổi của khí hậu trái đất, ông đã cùng với trường Đại học Thủy lợi Hà Nội xây dựng đoạn kè tiêu biểu dài 300m theo kỹ thuật hiện đại tại bờ biển Mũi Né (Bình Thuận) và xây dựng ở đây một trạm đo đạc thủy khí, thủy văn vùng biển theo sự tài trợ của cộng đồng Wallonie-Bruxelles. Với những cống hiến cho đất nước, ông đã được trao tặng danh hiệu “Vinh danh đất Việt” năm 2005 và nhận bằng khen của Bộ Ngoại giao Việt Nam (năm 2005 và năm 2007). Giáo sư Hưng cho rằng, có sự khác biệt rất lớn giữa các trường đại học ở Việt Nam và trường đại học của các nước tiên tiến trên thế giới. Ở các nước Âu, Mỹ, các trường đại học là nơi truyền bá tri thức và nghiên cứu khoa học một cách khách quan. Ở Việt Nam, còn lẫn lộn giáo dục với tuyên truyền, chương trình học nặng lý thuyết, nghiên cứu khoa học không được coi trọng đúng mức. Các viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học tách rời với các trường đại học. Kết quả là giáo trình giảng dạy không được hiện đại hóa kịp thời nhờ những kết quả nghiên cứu khoa học và những kết quả này nếu có lại không được phổ biến để có sự tiếp nối của lớp trẻ. Đây là sự lãng phí ở một đất nước còn nghèo như Việt Nam. Theo ông, để giáo dục Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến, không có con đường nào khác ngoài việc chúng ta phải triệt để đổi mới tư duy. Hết mình vì sự nghiệp nghiên cứu khoa học Năm 2006 nghỉ hưu, giáo sư Hưng hồi hương về Việt Nam và sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh. Dù nghỉ hưu nhưng ông vẫn miệt mài với công việc chuyển giao khoa học công nghệ cho thế hệ trẻ. Ông đã mở Công ty Công nghệ quốc tế Hưng Việt (HVT) để các học trò đã theo học chương trình đào tạo quốc tế EMMC và MCMC có điều kiện thi thố khả năng trong một môi trường làm việc quốc tế. HVT tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, đó là những phần mềm có kỹ năng cao trong việc phân tích các loại kết cấu dựa trên những mô hình toán tiên tiến, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: công trình dân dụng, cầu hầm, đập nước, máy móc, ô tô, máy bay, robot… Khách hàng thường xuyên của HVT là các hãng chế tạo xe hơi Mercedes - Daimler, BMW, PORSCH, GM, VOLKSWAGEN, TATA và các công ty thiết kế cấu trúc hàng không. Theo giáo sư Hưng, các cơ sở nghiên cứu khoa học của Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Khoa học Việt Nam muốn có bước bứt phá cần rà soát lại hiện trạng, thay thế nhân sự. Người đầu tàu được bổ nhiệm trong một thời gian nhất định nếu không thể hiện được khả năng của mình qua những báo cáo khoa học, những công trình được công bố trên những tạp chí quốc tế, những bằng phát minh được giới khoa học thừa nhận, những hướng dẫn nghiên cứu thành công thì phải nhường chỗ cho người khác. Việt Nam phải chú ý đào tạo đội ngũ kế cận là những người trẻ không những phải có bằng tiến sỹ, có công trình khoa học mà còn phải có kinh nghiệm cọ xát với môi trường khoa học công nghệ quốc tế qua thời gian dài nghiên cứu sau tiến sỹ. Muốn đi nhanh, đi tắt, nhất là những lĩnh vực mũi nhọn, Việt Nam phải dựa vào chất xám Việt kiều. Ông cũng cho rằng, hiện nay có trên 300.000 người Việt được đào tạo bài bản đang làm việc tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu, các phân xưởng, các nhà máy tiên tiến trên thế giới. Họ thường xuyên cọ xát với môi trường khoa học công nghệ có sự cạnh tranh gay gắt nhất. Vấn đề là phải thu hút được họ, tạo điều kiện để họ tự nguyện tham gia công cuộc phát triển đất nước. “Huy động chất xám cần những biện pháp tế nhị. Điều cần nhất là phải tạo dựng một không gian thoáng về tư duy, về tư tưởng, dân chủ trong phát biểu và đề xuất khoa học. Người trí thức chân chính cần tính trung thực, minh bạch, tính công khai, cần lý tưởng chân thiện mỹ” - giáo sư Hưng chia sẻ. Những lúc rảnh rỗi, ông thường dịch những ca khúc cổ điển nước ngoài sang lời Việt./. ______________________________________________________________________________
GS. TS Nguyễn Đăng Hưng là tác giả của hơn 20 cuốn sách, bài giảng, từ điển và hơn 200 công trình khoa học. Phần lớn trong số đó được xuất bản bởi các tạp chí khoa học danh tiếng trên thế giới. Ông đã được nhận danh hiệu Giáo sư ưu tú và Huân chương cao quý của Vương quốc Bỉ; Huân chương Đại Hiệp sỹ của vua Léopold II, Vương quốc Bỉ. Tháng 7/1999, ông được tạp chí hàng tuần của Bỉ “Le Vif - l’Express” bình chọn là 1 trong 10 người nước ngoài “đã làm thay đổi nước Bỉ”. Minh Thư (Báo TNVN) __________________________________________________________________________

Về đề án đưa phòng chống tham nhũng vào trường học Lời nói đầu: Đầu năm tháng 1/2010 vừa qua một tờ báo lớn tại Sài Gòn đã phóng vấn tôi về đề tài trên. Tôi đã thẳng thắn trả lời từng câu hỏi. Nhưng sau đó không thấy báo đăng tải. Đây là thường lệ tại Việt Nam khi nội dung bài báo ít nhiều có chệch qua lề trái. Xin đăng tải nguyên văn bài phỏng vấn với nỗi lo âu ngày càng bức thiết của tôi: Chừng nào công cuộc chống tham nhũng mới được chính quyền ra tay thực sự đây trời! Nhà báo: 1. Chính phủ có đề án đưa phòng chống tham nhũng vào trường học để dạy cho học sinh tiểu học, trung học. GS đánh giá như thế nào về tính hiệu quả của đề án GS Nguyễn Đăng Hưng Trước nhất là tôi rất ngạc nhiên! Ngạc nhiên và băng khoăn. Không ngờ Việt Nam ta tổ chức chống tham nhũng một cách lạ lùng như vậy! Dĩ nhiên là tôi không phản bác việc thêm vào sách công dân giáo dục những danh mục, những bài học liên quan đến việc ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng. Nhưng trong lúc cả xã hội đang chờ một cái gì đột phá, thì biện pháp kiểu này làm tôi ngạc nhiên và băng khoăn! Không ngờ một thãm họa mà ta thường gọi là giặc nội xâm đang hoành hành ở mọi cấp mà ta lại có biện pháp đối phó lại nhẹ nhàng và chần chờ đến vậy! Cứ tưởng tượng sang năm mới 2010 ta bắt đàu đưa quan diểm chống tham nhũng vào tiểu học thì chắc phải chờ mười hai mươi năm nữa các em mới ý thức được yêu cầu chống tham nhũng và những biện pháp hữu hiệu chống giặc nội xâm lúc ấy mới hình thành sao? Bởi vậy về mặt hiệu quả trước mắt thì theo tôi sẽ chẳng là gì cả nếu không có những biện pháp quyết liệt khác kèm theo. Và những biện pháp quyết liệt thì tôi chưa thấy chính phủ bàn đến, ít ra vào thời điễm đầu năm mới này ! Nhà báo: Theo GS gốc của tham nhũng bắt đầu từ đâu? Dư luận cho rằng trong khi tham nhũng nằm ở những người có chức, có quyền, cơ quan chức năng chưa mạnh tay chống. Nhiều vụ nghi vấn tham nhũng phía nước ngoài đang điều tra xử lý, nhưng cơ quan chưc năng việt Nam thụ động chậm chạp. Vậy liệu chuyện phát động cho nhân dân, mặt trận tổ quốc, học sinh chống tham nhũng có hiệu quả hay không? GS Nguyễn Đăng Hưng Câu hỏi của nhà báo phần nào bao gồm câu trả lời. Thật vậy muốn tham nhũng trước hết phải có quyền lực, phải có khả năng và điều kiện điều động được ngân quỷ. Cho nên đối tượng cần giáo dục, nhắc nhỡ, trước hết là thành phần cán bộ các cấp, địa phương cũng như trung ương, đặc biệt những cửa quyền mà nạn tham nhũng thường xảy ra nhất: hải quan, cơ quan thuế, công an… Những đợt học tập chống thông nhũng, những biện pháp răn đe cần được phát động một cách có hệ thống rộng khắp và thường trực. Dài hạn hơn là phải dành những bài học chống tham nhũng cho những cơ sở đào tạo cán bộ, các trường đảng, các đoàn thanh niên, các đợt học tập chính trị, các lớp chuyên tu hay tại chức… Còn đối với người dân thì nên qua báo đài khuyến khích nhân dân tham gia chống tham nhũng, khuyến khích mạnh dạn tố giác những kẻ tham nhũng, phổ biến các biện pháp cụ thể bảo vệ người phát hiện tham nhũng, xây dựng những đường giây nóng thu thập thông tin và xử lý có hiệu quả những thông tin về tham nhũng, đề cao tác phong không tham nhũng, không chung chi cho việc bôi trơn, khen thưởng những tổ chức, những cá nhân tự giác tham gia bài trừ tham nhũng… Tuy nhiên cái quan trọng nhất trong giáo dục là nêu gương cho xã hội: xử lý rốt ráo những vụ án tham nhũng đang gây hoang mang trong dư luận hiện nay, những biện pháp trừng trị nặng nhất phải được áp dụng các cấp tham nhũng có vị trí quyền lực cao nhất. Thân nhân càng gần quyền lực bao nhiêu thi càng phải trong sạch bấy nhiêu thì mới hợp lý! Nhất quyết không được dựa theo lý do thân nhân mà giảm khinh cho tội ác tham nhũng… Nhà báo: Cái gốc của vấn đề là dạy cho học sinh, sinh viên làm người tốt cái đã, như phải có lòng tự trọng, biết xấu hổ, tự dằn vặt mình khi tay lỡ nhúng chàm, không biết tham lam, tham vọng quá mức. Trong khi bản thân ngay các trường học, giáo viên cũng có nhiều vấn đề như quà cáp, bán điểm, dạy thêm, thu phí tràn lan chưa chấn chỉnh được. Vậy giữa thực tế sống và nội dung học mâu thuẩn nhau liệu có phản tác dụng không? GS Nguyễn Đăng Hưng Làm sao dạy được các em bài học về tham nhũng trong khi nạn tham nhũng đã thành thãm họa lan tràn khắp nơi như căn bệnh ung thư của toàn xã hội. Ta biết tệ nạn dạy thêm dạy riêng, học thêm là một hình thức tham nhũng đang hoành hành từ tiểu học trung học đến đại học. Làm sao các em tin được bài học này khi các em thấy nhan nhản trước mắt những cảnh đau lòng xóa mòn đạo dức nhà giáo nay vẫn chưa có biện pháp tẩy trừ? Làm sao các cô giáo yên lòng rao giảng khi chính mình vẫn chưa áp dụng trên thực tế? Vậy việc tiên quyết phải là việc cải tiến chế độ lương tiền cho nhà giáo, lương phải tính cho đủ sống, đủ nuôi gia đình. Kế đến phải có biện pháp chỉnh huấn, giám thị, vận động trở vể với những giá trị đạo dức chân chính của nhà mô phạm và nếu cần bãi chức những con sâu làm rầu nồi canh… Còn đối với tuổi trẻ, theo tôi nên trở về với những bài học giáo khoa thư những bài học về lòng nhân từ, về tính trung thực, về tinh thần trách nhiệm tôn trọng của công, về lòng trọng nghĩa khinh tài, về tình thương yêu đồng loại lá lành đùm lá rách…, những bài học kỷ năng sống của người tử tế, những bài học về công dân giáo dục cơ bản… Những tâm hồn trong trắng khi thấm nhuần những hệ giá trị tích cực sẽ không sa đà vào những hành động tiêu cực của người lớn, sẽ không tham lam vô cảm vô trách nhiệm, động lực ban đầu của tệ nạn tham nhũng. Nhà báo: Để xây dựng văn hoá chống tham nhũng, nói cách khác là mọi người cùng nhận thức và tham gia chống tham nhũng. Đảng, nhà nước, các cơ quan quản lý cần phải làm gì? GS Nguyễn Đăng Hưng Xây dựng văn hóa chống tham nhũng chính là phát triển đạo đức làm người lương thiện. Việc này cần trở về với những giá trị đạo đức truyền thống, cần sự giúp sức của các hệ thống tôn giáo, cần xây dựng và củng cố tế bào căn bản của xã hội là gia đình. Hãy trở về với nề nếp gia phong, với bản sắc thanh bạch liêm chính… Nhưng văn hóa trong sáng không tham nhũng chỉ có thể phát triển trong một xã hội được tổ chức theo những tiêu chí khoa học mà các nước tiên tiến đã áp dụng hằng trăm năm nay. Đó là việc phân tầng quyền lực một cách hợp lý trong đó luật pháp và báo chí phải giữ được tính độc lập khách quan vô tư. Và xây dựng văn hóa chống tham nhũng chính là xây dựng một hệ thống luật pháp độc lập, xây dựng một nền báo chí không bị chi phối bỡi những lợi ích cục bộ, kinh tế cũng như chính trị. Sài Gòn ngày 7/1/2010 
Ca sỹ Phi Thúy HạnhHai ca khúc: “Không ! có sao đâu” và “Tình ngang trái” Lời Việt của Nguyễn Đăng Hưng Đêm ra mắt album nhạc ngoại quốc lời Việt do Nguyễn Đăng Hưng chuyển ngữ có hai ca khúc được nữ ca sỹ Phi Thúy Hạnh trình diễn rất thành công. Nhiều bạn bè rất thích ca từ có nhắc nhở chúng tôi. Xin xuất bản ở đây nguyên văn hai bài : 1. Non ! Rien de rien (Không ! Có sao đâu), ca khúc tiêu biểu do nữ ca sỹ người Pháp Edith Piaf hát lần đầu tiên trong năm 1960. Edit Piaf được xem như nữ ca sỹ lớn nhất của nước Pháp đã nổi lên như một hiện tượng ca nhạc từ những thập kỷ 30, 40, 50,60. Năm 1960 nhà soạn nhạc lừng danh Charles Dumont đến thăm Edit Piaf tại nhà ớ Paris và qua chiếc dương cầm có sẳn, đã giới thiệu bài hát “Non rien de rien” này cho Piaf. Sau khi nghe xong, Piaf rất vui và nói ngay : đây là chính ca khúc tôi chờ đợi từ lâu vì nó tóm tắt của đời ca kỷ sôi nổi của tôi. Quả đúng như vậy bài “non rien de rien” đã trở thành một thành công vang dội toàn cầu đưa tiếng hát Piaf lên đỉnh cao. Tháng 12 năm 1960 tôi đã nhiều lần nghe bài này tại Sài Gòn. Bước chân đến Bỉ, ở đâu tôi cũng nghe bài hát này vang lên như một thông điệp vĩnh cửu của Piaf, một ca khúc không có nếp nhăn qua năm tháng. http://fr.youtube.com/watch?v=Q3Kvu6Kgp88&feature=related 2. AMOUR DÉFENDU (Tình ngang trái, phiên bản tiếng Anh có tên là Romance), một ca khúc tiêu biểu do nữ ca sỹ Mireille Mathieu (ca sỹ được coi như là người nối nghiệp Edith Piaf) trình diễn. Bài này đã được Phạm Duy dịch rồi không biết năm nào và có tên là « Tình oan khiên ». Đây là ca khúc nguyên tác từ Tây ban Nha có tên là « Melodia de Sor » do Fernando Sor sáng tác. Năm 1977 Narciso Yepes soạn lại cho guitar và trở nên nổi tiếng qua phim “Jeux interdits”. Lời tiếng Pháp của Eddy Marnay đã gây cảm hứng cho phần chuyễn ngữ mới của Nguyễn Đăng Hưng http://www.youtube.com/watch?v=GMf4kWAFhLs&NR=1 Sau đây là ca từ tiếng Pháp và lời Việt do Nguyễn Đăng Hưng chuyển ngữ.
La chanson des années 60 rendue célèbre par EDITH PIAF Lời: Michel Vaucaire, Nhạc: Charles Dumont REFRAIN - (C) Non !
Rien de rien… Non, je ne regrette rien… Ni le bien, Qu’on m’a fait. Ni le mal, Tout çà m’est bien égal ! Non ! Rien de rien… Non, je ne regrette rien… C’est payé Balayé Oublié Je me fous du passé ! COUPLET Avec mes souvenirs J’ai allumé le feu Mes chagrins, mes plaisir Je n’ai plus besoin d’eux ! Balayé mes amours Et tous leurs trémolos Balayés pour toujours Je repars à zéro… REFRAIN - Non !
Rien de rien… Non, je ne regrette rien… Ni le bien, Qu’on m’a fait. Ni le mal, Tout çà m’est bien égal ! Non ! Rien de rien… Non, je ne regrette rien… Car ma vie Car mes joies, Aujourd’hui, Çà commence avec toi ! | Bài hát nổi tiếng trong những năm 60 do (EDITH PIAF hát) Lời Việt: Nguyễn Đăng Hưng (2008) ĐIỆP KHÚC - (C) Không !
Có sao đâu… Không, xót xa chi chuyện qua rồi! Chuyện buồn đau Nỗi cô đơn, Buổi thương đau, Sẽ không còn trong tôi nữa ! Không ! Có sao đâu… Không, xót xa chi chuyện qua rồi! Đời bể dâu Thoáng qua mau, Như bóng câu Qua cửa sổ nhanh mà thôi ! ĐOẢN KHÚC Những dây dứt, những đợi chờ, Đã cháy bỏng trong tim mình, Những kỷ niệm, những đau buồn Không lắng đọng trong tôi mãi ! Những thao thức, những âu sầu, Những nước mắt của đêm thâu, Những âu lo ngày tháng dài Đã đi qua mất hết rồi ! ĐIỆP KHÚC - Không !
Có sao đâu… Không, xót xa chi chuyện qua rồi! Niềm cay đắng, Nỗi cô đơn, Buổi thương đau, Sẽ không còn trong tôi nữa ! Không ! Có sao đâu… Không, xót xa chi chuyện qua rồi! Vì tình yêu, Mới lên ngôi, Bởi hôm nay, Em đã có trong đời tôi ! | | AMOUR DÉFENDU Le Dm vent d’octobre froissait la rivière Les plis Bb de ma robe frôlaient Gm la bruyère L’air é A tait si tendre que j’ai Dm voulu prendre ta main A qu’une bague m’avait Gm dé Dm fen Gm du Dm. La Dm seule faute restera la mienne J’ai ou Bb blié l’autre et j’ai Gm dit “je t’aime” Les fleurs A de la lande aux cou Dm leurs de l’ombre ont tout recouvert et mon coeur s’est Dm per Gm du Dm. A D mour de rêve, Amour A de l’automne, Quand le G jour se lè A ve C’est l’hi D ver qui son A ne. On a D pris le mon D de A Pour D quel G ques secondes D Mais G on D ne vit pas A D’un amour G dé D fen G du.D Il Dm y avait l’autre, Il y avait ses larmes J’ai re Bb pris ma faute J’ai je Gm té les armes. Les fleurs A de la lande Aux cou Dm leurs de l’ombre Où l’on A s’est aimés Ne me re Gm ver Dm ront Gm plus.Dm A D mour de rêve, Amour A de l’automne, Quand le G jour se lè A ve C’est l’hi D ver qui son A ne. On a D pris le mon D de A Pour D quel G ques secondes D Mais G on D ne vit pas A D’un amour G dé D fen G du.D On a D pris le mon D de A Pour D quel G ques secondes D Mais G on D ne vit pas A D’un amour G dé D fen G du.D Mais G on D ne vit pas A D’un amour G dé D fen G du.D | TÌNH NGANG TRÁI Yêu Dm đương như tơ vương miên man trôi một chiều thu Ngày ấy Bb em đã lỡ yêu theo cơn Gm say tình ngày thơ. Lâng lâng A như trong giấc mơ Tim em Dm không hay đêm đêm người kia A xa xôi trông mong và ngày Gm ngày Dm đợi Gm chờ Dm . Ôi Dm mưa không ngưng rơi trong tim em một ngày đông Vì bỡi Bb ngang trái đắng cay Nay vương Gm theo phận mình đây Không gian A như tan vỡ thôi Bên hiên Dm hoa rơi trong mưa mà nay A rơi trong tim em nhạt nhoà Gm rồi Dm úa Gm tàn Dm Yêu D đương như cơn mơ, Cơn mơ A một chiều vàng, Rồi ngày G tháng sẽ khuất A lấp Nhưng tim D em sao vấn A vương. Vì em D có những phút D ấy A Rồi D thiên G thu sẽ khó quên D Nhưng G thôi D thôi mong chi A Khi tình yêu G đã D dứt G rồi.D Yêu Dm đương như cơn đau trong đêm thâu lệ sầu than Chợt thấy Bb tê tái nát tan Tim em Gm thôi màng làm chi. Không gian A như tan vỡ thôi Bên hiên Dm hoa rơi trong mưa Tình yêu A theo hoa rơi nay nhạt nhoà Gm rồi Dm úa Gm tàn Dm Yêu D đương như cơn mơ, Cơn mơ A một chiều vàng, Rồi ngày G tháng sẽ khuất A lấp Nhưng tim D em sao vấn A vương. Vì em D có những phút D ấy A Rồi D thiên G thu sẽ khó quên D Nhưng G thôi D thôi mong chi A Khi tình yêu G đã D nhạt G nhòa.D Vì em D có những phút D ấy A Rồi D thiên G thu sẽ khó quên D Nhưng G thôi D thôi mong chi A Khi tình yêu G đã D nhạt G nhòa.D Nhưng G thôi D thôi mong chi A Khi tình yêu G đã D nhạt G nhòa.D |
 
Từ con số đến nốt nhạc Nổi tiếng trong giới khoa học với những nghiên cứu và giải thưởng quốc tế về công nghệ cao, GS.TS Nguyễn Đăng Hưng còn được biết đến với tư cách nhà giáo dục có 40 năm giảng dạy trong nhiều ĐH ở Bỉ. Nhưng đề tài ông có thể nói suốt ngày là âm nhạc. Ông vừa có đêm giới thiệu CD những bài hát nước ngoài do ông dịch và tham gia thể hiện: Sẽ cuốn theo gió bay.
Sau 40 năm đứng trên bục giảng, năm 2006, ông bắt đầu cuộc sống hưu trí. Theo ông, hưu trí là mỗi sáng sớm thức dậy không phải vào giảng đường, mà là tập thể dục, ngắm hoa cỏ quanh nhà, cầm đàn guitar tấu lên những bài mình thích. Nhưng ông vẫn làm tư vấn cho các trường đại học, và điều hành bán thời gian một công ty công nghệ cao… Ông bảo mình không hối hận về quãng đời đã qua, với lý thuyết vật lý cơ bản, khái niệm “vận hành vật thể”… dù hồi bé đam mê văn học nghệ thuật. “Nếu ngày ấy gia đình tôi sung túc, nếu tôi được chọn lựa cuộc đời mình, tôi đã chọn văn học và nghệ thuật. Vì nhà nghèo nên ba tôi không muốn tôi đi theo con đường “đói” đó. Ông lấy đàn guitar của tôi giấu đi”, GS.TS Nguyễn Đăng Hưng kể. 15 tuổi, ông bắt đầu làm thơ. Số bài thơ của ông hiện lên đến hàng trăm, trong đó có 20 bài đã được phổ nhạc. Nhưng ông đã phải rẽ đường khác. Vì học đều cả hai môn văn và toán nên ông không khó khăn gì khi theo đuổi những con số. Rồi ông nhận học bổng của Bỉ. Bây giờ, ở tuổi 69, ông có thể cầm đàn guitar mỗi ngày. Ông tìm lại niềm đam mê xưa cũ bằng việc dịch những bài hát nước ngoài mình yêu thích. Nếu như khi nghiên cứu khoa học, ông quên ăn quên ngủ thế nào thì giờ ông cũng say mê âm nhạc như thế. Nhiều đêm ông ôm đàn, ghi ghi chép chép đến 2 giờ sáng. Ông có hai nguyên tắc bất di bất dịch trong việc chuyển ngữ bài hát. Đó là tôn trọng tinh thần của tác giả và phải thể hiện được chất thơ của ca từ. Nhiều bài hát vốn là thơ phổ nhạc, như bài Que serais-je sans toi vốn dịch từ thơ của Louis Aragon, nên việc chuyển ngữ theo đúng hai nguyên tắc đó là một điều cực kỳ khó. Nhưng đến giờ, ông đã chuyển ngữ được 25 bài hát. Dịch xong một bài, ông thấy khoan khoái không kém gì khi đạt được thành tựu trong khoa học. “Tôi không dừng lại ở đây đâu”, ông khẳng định. Album nhạc nước ngoài chuyển ngữ Việt tiếp theo đang được thực hiện, và sau đó là album về những bài hát phổ nhạc từ thơ của ông. “Và biết đâu tôi sẽ tự phổ nhạc thơ mình”. Ông đã xuất bản được 3 tập thơ, trong đó có một cuốn xuất bản tại Việt Nam. Nhìn ông ôm đàn say sưa hát trong buổi chiều tà, bên khu vườn nhỏ đầy hoa trong ngôi biệt thự của mình, không ai nghĩ đây lại là nhà khoa học với những số liệu, nghiên cứu khô cứng. Ông như một gã lãng du đang lang thang trên thiên đường âm nhạc. Bài, ảnh: Võ Hà GS-TS, kiều bào Bỉ Nguyễn Đăng Hưng: “Lắng nghe nhau, tôn trọng tính độc lập của trí thức” (LĐCT) - Cuộc giao lưu với GT-TS Nguyễn Đăng Hưng được tổ chức với mục đích tạo sự gắn bó giữa trí thức Việt kiều và trí thức trong nước, cụ thể là những người hiện đang sống, làm việc tại TPHCM. “Chẳng có gì ghê gớm lắm đâu!” - vị giáo sư mà tháng 7 năm 1999 được tạp chí “Le Vif-l’Express” (Bỉ) bình chọn là một trong mười người nước ngoài “đã làm thay đổi nước Bỉ”, đóng góp nhiều cho các dự án giáo dục lớn của VN cứ nhắc đi nhắc lại cụm từ này khi tâm sự về những việc đã làm trong cuộc trò chuyện do Uỷ ban Về người Việt Nam ở nước ngoài - TPHCM (UB) tổ chức chiều 24.8. Cuộc giao lưu với GT-TS Nguyễn Đăng Hưng, hiện là Tổng giám đốc Cty HungVietTech - một trong ba hoạt động chào mừng quốc khánh 2.9 của UB - được tổ chức với mục đích tạo sự gắn bó giữa trí thức Việt kiều và trí thức trong nước, cụ thể là những người hiện đang sống, làm việc tại TPHCM. Năm 1960, Nguyễn Đăng Hưng được nhận học bổng học ngành kỹ thuật tại Vương quốc Bỉ. Năm 1966, sau khi lấy bằng kỹ sư, ông được giữ làm nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Kỹ thuật hàng không (LTAS) - ĐH Liege. GS Hưng hóm hỉnh: “Tôi có may mắn gắn bó 40 năm với một ĐH danh tiếng của Bỉ và thế giới, có môi trường tốt để học, làm việc, giảng dạy, được tạo điều kiện dành 50% thời gian để nghiên cứu khoa học với nhiều hứng thú! Và tôi cũng đã “quậy” khá nhiều trong 40 năm đó”. Nguyễn Đăng Hưng là tác giả của 20 cuốn sách, bài giảng, hơn 200 công trình khoa học phần lớn được xuất bản bởi các tạp chí khoa học danh tiếng thế giới. “Năm 1977, tôi lần đầu về quê hương. Là con nhà nghèo, có điều kiện học hành, nên về quê, thấy đất nước còn nhiều khó khăn những năm sau chiến tranh, tôi canh cánh trong lòng làm sao cho nhiều người trẻ VN được học hành tử tế, học lên trình độ cao… Mãi gần 20 năm sau, từ 1995, tôi mới bắt đầu thực hiện được ý tưởng của mình. Khiêm và Nhẫn - hai chữ này tôi treo trong phòng mình trong suốt thời gian 13 năm tôi thực hiện dự án tại quê nhà”, ông nói. Tại Việt Nam, tên tuổi GS Nguyễn Đăng Hưng gắn liền với hai chương trình đào tạo cao học quốc tế với mô hình du học tại chỗ - “Thạc sĩ Âu Châu về cơ học xây dựng - EMMC” (tại TPHCM) và “Thạc sĩ Âu Châu về cơ học tính toán môi trường liên tục - MCMC” (tại Hà Nội). Với hai chương trình này, từ 1995-2008, ông đã góp phần đào tạo 416 thạc sĩ, 20 tiến sĩ trình độ quốc tế - một nguồn nhân lực quý giá, hiện đang làm việc, công tác, giảng dạy trong các cơ quan khoa học, các trường đại học ở VN. Với uy tín của mình, ông đã vận động tài trợ kinh phí cho các khoá học, thỉnh giảng được nhiều giáo sư đầu ngành của Châu Âu, Châu Mỹ sang VN, trong số đó có những chuyên gia Việt kiều tài năng như GSTS Vũ Khánh Toàn, GSTS Nguyễn Văn Hiền, GSTS Đặng Văn Kỳ…”. Nói về “cách chiêu dụ” chất xám Việt kiều, từ kinh nghiệm của mình, tôi thấy, rất quan trọng là sự lắng nghe, tôn trọng tính độc lập của trí thức, tạo môi trường làm việc cởi mở, thông thoáng, tin tưởng. Yêu nước là quyền của tất cả mọi người. Một trí thức trong nước hay một trí thức Việt kiều đều yêu nước và giữ tư thế của một trí thức độc lập, thẳng thắn phát biểu vì quyền lợi dân tộc. Trong số bạn bè đồng nghiệp của tôi hiện đang sống, làm việc ở nhiều quốc gia khác nhau, có những kiều bào vô cùng giỏi, hiện giữ những trọng trách cao trong các trường đại học, công ty… Tuy nhiên, khi đề cập tới vấn đề mời họ hợp tác, chẳng hạn về nước làm chuyên gia…, họ giữ một chút e dè, ngần ngại. Cần phải dẹp đi tảng băng-ngờ vực lẫn nhau. Trải thời gian, tôi giờ là một Việt kiều đã được tin tưởng, xin làm cầu nối với những kiều bào vẫn còn e dè như vậy”. Năm 2006, GS Hưng về hưu, ông xin hồi hương, về quê nhà. Việc lập Công ty HungVietTech ông gọi là “cuộc phiêu lưu công nghệ của một nhà khoa học đã về hưu”. Khách hàng thường xuyên của công ty là những hãng chế tạo xe hơi lớn như Mercedes-Daimler, BMW, TATA và một số công ty thiết kế cấu trúc hàng không. “Tất cả những gì tôi làm là góp phần cho đất nước, quê hương mình” - GS Hưng nói. Lâm Tuyền 
Việc đánh giá chất lượng các công bố khoa học tại Việt Nam GS Nguyễn Tiến Zũng (Toulouse, Pháp) … Những vấn đề mà Hội toán học thế giới đưa ra về chuyện dùng “Impact factor”, có lẽ phần lớn những người làm toán ở nước ngoài đều có biết và đồng tình. Tuy nhiên, những thứ statistics như vậy vẫn có tác dụng “tín hiệu” (nói theo ngôn ngữ lý thuyết trò chơi: thông tin không đầy đủ, người ta xử lý dựa trên các tín hiệu) và vẫn sẽ được dùng. vấn đề là xây dựng “tín hiệu” sao cho chính xác nhất. Trong toán, thì trích dẫn 5-10 năm sẽ chính xác hơn nhiều là chỉ xem 2 năm. Và các ngành khác nhau, muốn so sánh với nhau, thì phải dựa trên các “baselines” nào đó. Có một điều chắc chắn là: có correlation (tương quan) rất lớn giữa số lần được trích dẫn, và ảnh hưởng khoa học của một người. Và cũng có “correlation” (tương quan) lớn giữa uy tín của 1 tạp chí, và chất lượng của bài đăng trong tạp chí đó. Và các quyết định trong thực tế chủ yếu dựa vào các tín hiệu có “correlation” lớn, chứ không có gì đảm bảo 100%. Trân trọng, NTZ GSTS Nguyễn Văn Tuấn (Sydney, Úc) Tôi muốn có vài lời phụ hoạ với Dũng về chuyện đo lường khoa học. Impact factor (IF, chỉ số ảnh hưởng) phản ảnh chất lượng và uy tín của tập san, chứ không nhất thiết phản ảnh chất lượng một bài báo nào và càng không nói lên thành tựu của một cá nhân. Có lẽ những ai quan tâm đến “citation science” (yes, có một bộ môn khoa học và vài tập san khoa học về chuyện này) đều biết. Nhưng vẫn có mối tương quan cao giữa IF và uy tín của một cá nhân, và điều này đã có nghiên cứu hẳn hoi chứ không phải nói suông hay ý kiến cá nhân. Nhưng IF rất quan trọng cho tập san, vì nó dính dáng đến tiền bạc chứ chẳng chơi. Tụi tôi phục vụ trong ban biên tập, năm nào cũng nôm nốp chờ cái đám ISI nó công bố IF của tập san mình ra sao. Nếu IF giảm thì quảng cáo cũng giảm theo, và hội đồng biên tập bắt đầu đem tổng biên tập ra … chém. Còn đại học thì năm nào cũng xem quân lính của mình công bố ở đâu, và như trường hợp của Viện tôi, chỉ khi nào chỉ số IF trung bình cao hơn một ngưỡng nào đó thì mới được thưởng, còn không thì năm đó xem như … tiêu điều. Ai cũng ghét IF. Có hàng chục, thậm chí hàng trăm, bài báo chỉ trích IF (tôi có cả một collection). Nhưng nó vẫn tồn tại. Chẳng những tồn tại mà còn có xu hướng phát triển! Điều này đơn giản vì giới quản lí khoa học thích cái gì đơn giản mà dễ hiểu. Để đánh giá một cá nhân, các hội đồng khoa bảng và cung cấp tài trợ trên thế giới đang dần dần chuyển sang chỉ số h (hay h index) như là một trong những tiêu chuẩn và thước đo chính. Nhưng vì chỉ số h dựa vào tần số trích dẫn, và tần số trích dẫn thì rất khác nhau giữa các bộ môn khoa học. Chẳng hạn như khi phân tích tổng số bài báo từ 1995 đến 2005, người ta thấy tần số trích dẫn bình quân (tính trên mỗi bài báo) của ngành miễn dịch học là 1955., vật lí 722., còn ngành toán chỉ 266., ngành khoa học máy tính 249., vv…. Do đó, người ta phải đề ra một chỉ số h chuẩn hoá. Cách chuẩn hoá là lấy ngành vật lí làm ngưỡng chuẩn. Chỉ số h chuẩn hoá (kí hiệu Hc) là Hc = hc*, trong đó h là chỉ số h do ISI cung cấp, và c là hệ số liên quan đến trích dẫn của một ngành khoa học. Hệ số c của ngành vật lí [đương nhiên là] 1, toán 183., khoa học máy tính 175., miễn dịch học 052.. Do đó, nếu một nhà toán học có h = 10 thì Hc = 183., tức cao hơn một nhà vật lí học có cùng h. Tôi nghĩ ở các nước đang phát triển như nước ta, các đồng nghiệp thường bị thiệt thòi. Lí do đơn giản là khi trích dẫn, người ta không thích hay không tự tin trích dẫn những bài báo từ các nước như Việt Nam, Thái Lan, Singapore, thậm chí Hàn Quốc, vì những câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu như: không biết khoa học mấy nước này ra sao, họ có làm đúng phương pháp hay không, có giả tạo số liệu như ở Hàn Quốc hay không, vv…. Cái nguyên nhân thứ hai là các nhóm nghiên cứu, thậm chí các đại học, ở những nước như thế chưa có “name”, hay nói nôm na là chưa có thương hiệu. Vì chưa có thương hiệu, chưa có name nên chẳng ai quan tâm. Và, để cho chắc ăn, cách tốt nhất là tránh trích dẫn từ các nước này. Đó là một thiệt thòi lớn cho những người làm khoa học nghiêm chỉnh. Cố nhiên, tôi chỉ nói trong ngành y, còn ngành khác thì tôi không biết ra sao. Không có một chỉ số nào là hoàn chỉnh cả. Nhưng như người ta vẫn nói có một đáp số gần đúng vẫn tốt hơn là không có đáp số (“an approximate solution is better than no solution”), cho nên những chỉ số này vẫn là những thước đo khách quan hơn, chính xác hơn, và đáng tin cậy hơn cả trăm lần so với những ý kiến cá nhân. Tuấn. GSTSKH. Nguyễn Đăng Hưng (Liège, Bỉ) Tôi tán đồng với những ý kiến xác đáng của anh Tuấn. Ngành cơ học tính toán của tôi cũng làm tôi có suy nghĩ tương tự như vậy về các chỉ số đánh giá! Nói chung, ta chỉ nên xem như là một cơ sở đánh giá tương đối và còn những cơ sở khác. Đánh giá phải đa chiều. Đối với những nước đang trên đường phát triển như VN ta, điều kiện vật chất khó khăn (nhiều tờ báo phải đóng tiền mới đăng bài!) không nên loại trừ những bài báo có tính cụ thể áp dụng, nhưng cũng rất bài bản và hữu ích cho khoa học và công nghệ nước nhà. Như vậy việc tổ chức lại, phấn đấu để có những tờ báo khoa học xuất bản tại Việt Nam có chất lượng có Hội đổng kiểm định quốc tế bao gồm các nhà khoa học có tăm tiếng đồng ý đứng vào, là điều tiên quyết, theo tôi!… Muốn vậy phải dựa vào các nhà khoa học VK đã có quá trình 30-60 năm sinh hoạt khoa học đứng ra làm chủ chốt..Họ có nhiều bạn bè quốc tế vì giao lưu thường xuyên nghề nghiệp. Điều này chính Bộ khoa học phải có chủ trương và tài trợ trong những buổi ban đầu… Trong ngành tôi VK có trình độ như vậy cũng không thiếu. Thiệt ra chỉ cần 2,3 là tạm đủ cho mỗi ngành… Có cái là ta nhờ vã họ, trông chờ họ mang về không công, nhưng ta chưa giao cho họ việc gì cho ra hồn…. Các nhà khoa học trong nước nên nhìn lại mình. Chỉ khi nào giải quyết được những tâm lý cục bộ đời thường, nhưng cũng rất đáng buồn, thì mới mong làm cái chuyện vẫn cứ nói mãi ở đầu môi chót lưởi mà không thực hiện được mảy may là : đi tắt đón đầu… Hưng, GSTS Nguyễn Văn Tuấn (Sydney, Úc) Hiện nay, có 3 chỉ số để đánh giá một nhà khoa học: số lượng ấn phẩm khoa học (N), impact factor của tập san mà nhà khoa học công bố nghiên cứu của mình (I), và chỉ số h (h). Mỗi chỉ số đều có những ưu và khuyết điểm. Ở đây, tôi chỉ nói sơ qua như sau: Cái khiếm khuyết chính của N là nó chỉ nói đến số lượng, chứ không phản ảnh chất lượng, và càng không phản ảnh vấn đề nhiều tác giả (tức có nhiều trường hợp tác giả chỉ là “lính đánh bo”^. mà N thì không biết và không phân biệt được những tác giả này). Một người có thể công bố 20 bài báo, nhưng nếu 19 bài là vai trò lính đánh bộ thì rõ ràng cho thấy năng suất khoa học của người này quá kém. Cần nói thêm rằng N ở đây đương nhiên là không tính số sách xuất bản và [trong ngành y] thì không tính mấy bài báo trong conference proceeding. IF như tôi nói hôm qua là ai cũng ghét nó và tìm đủ thứ lí do để phê phán nó. Một số phê phán cũng hoàn toàn hợp lí, nhưng một số phê phán thiếu khách quan. IF không nhận dạng được những lính đánh bộ. Sự thật là trong cùng một ngành, công bố một bài báo trên tập san hàng đầu có impact factor cao vẫn khó hơn là công bố một bài báo trên một tập san có impact factor gần bằng 0. Do đó, dù có phê phán thế nào đi nữa thì IF vẫn là một chỉ số có ích. Đương nhiên, chẳng ai dại dột đến nỗi phải nô lệ vào nó để đánh giá một nhà khoa học (vì nó được phát triển để phản ảnh chất lượng tập san). Tuy nhiên, tính trung bình những bài báo trên các tập san có IF cao cũng được trích dẫn nhiều hơn những bài báo trên các tập san có IF thấp. Người ta đã làm nghiên cứu bằng cách cho đồng nghiệp quốc tế đánh giá nhà khoa học bằng một bộ câu hỏi, rồi sau đó họ phân tích tương quan với IF, thì thấy hệ số tương quan dao động từ 053. đến 07.. Hệ số này tuy không hoàn hảo, nhưng không đến nổi tệ. Nói cách khác, IF quả thật cũng phản ảnh một phần nào đó khả năng và uy tín của nhà khoa học. Thật vậy, đọc CV của một người với những bài trên tập san có IF hàng top trong ngành thì cũng “pleasure” lắm chứ, thay vì đọc CV mà những bài báo toàn trên những tập san làng nhàng. Còn h thì quả là khá hơn hai chỉ số kia, nhưng vẫn có vấn đề. Vấn đề lớn nhất là nó tăng (chứ không giảm) theo thời gian, và điều này có nghĩa là mấy người mới xong PhD hay các nhà khoa học trẻ đang trong giai đoạn tự lập sẽ bị thiệt thòi. Ngoài ra, h còn tuỳ thuộc vào từng ngành khoa học, nhưng cái này thì có thể khắc phục bằng Hc như tôi mô tả hôm qua. Tôi nghĩ đến một chỉ số tổng hợp 3 chỉ số trên bằng một mô hình như Bayes chẳng hạn, nhưng đây là vấn đề kĩ thuật sẽ bàn sau. Mới đây, có người đề nghị chỉ số Z tổng kết c3 chỉ số trên. Z được định nghĩa như sau: Z = tổng tích sơIiPi^’), i chạy từ 1 đến N. Trong công thức này, P là “contribution factor”, phản ảnh đóng góp của tác giả cho bài báo hay công trình nghiên cứu. Chẳng hạn như tác giả đầu và cuối (trong ngành y thường là hai người quan trọng) có P = 1, còn tác giả đóng vai trò hợp tác thì P có thể 03. (cái này còn bàn thêm, vì tuỳ văn hoá ngành). I là impact factor của tập san. Thường thường, thời gian đòi hỏi một paper được trích dẫn cũng phải 2-5 năm, cho nên khi đánh giá thành tích trong năm, người đánh giá không có lựa chọn nào khác là dựa vào impact factor. Do đó, một nhà khoa học công bố được N = 5 bài với impact factor của 5 tập san đó là 1, 2, 45., 25., và 3. Ngoài ra, trong số này nhà khoa học là tác giả chính của 2 bài, còn 3 bài kia là lính đánh bộ, thì Z được tính như sau: Z = 11* + 21* + 450.3*. + 250.3*. + 303*. = 6. Một nhà khoa học khác cũng có 5 bài và cũng với IF như trên, nhưng toàn là tác giả chính thì chỉ số Z là 13. Như vậy Z “thuởng”+ cho nhà khoa học có vẻ công bằng hơn là N hay IF. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ nói về tương lai, nói cho vui, chứ trong thực tế hiện nay ở trong nước chưa ai dùng IF để đánh giá hay đề bạt một nhà khoa học cả, chứ nói gì đến h hay Z hay N. Có thể nhìn qua vài trường hợp được đề bạt chức danh GSPGS/ năm nay cũng thấy mấy chỉ số tôi vừa bàn trên đây gần như là gạt qua bên lề. Làm khoa học là một chuyện, nhưng làm khoa học có đẳng cấp là một chuyện khác. Bây giờ tôi bàn qua ý kiến của anh Hưng. Vấn đề anh Hưng nêu lên có tầm quan trọng. Trước đây, trên Tia Sáng (website đã bị đóng cửa) tôi cũng có đề nghị là [chỉ ngành y thôi] chúng ta nên tập hợp các tập san rải rác thành một tập san quốc gia với sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài và người Việt ở nước ngoài trong ban biên tập. Tập san sẽ hoạt động trong vòng 2-3 năm, và khi có đủ “critical mass” và mình chứng minh được tính khoa học của tập san, thì mình đăng kí với ISI để được “công nhan”^. và liệt kê trong danh sách của ISI. Nhưng chắc chẳng ai quan tâm đến chuyện này. Tôi có chút kinh nghiệm về chuyện đương đầu với ISI, vì khoảng mười năm trước chúng tôi gồm một nhóm đồng nghiệp đứng ra thành lập tập san Journal of Clinical Densitometry và chỉ sau 2 năm được công nhận. Hiện nay, tôi và vài người khác ở Đông Nam Á định lập một tập san y khoa khác cho vùng, vì có nhiều người phàn nàn là bọn tập san Tây phương kì thị không chịu công bố bài từ Đông Nam Á và Á châu nói chung. Thật ra thì phàn nàn này chỉ đúng một chút thôi, vì bằng chứng thực tế cho thấy không phải như thế, và tôi sẽ quay lại chuyện Á châu – Âu châu trong một dịp khác. Tại sao Thái Lan, Singapore, Mã Lai, vv…. có nhiều bài báo hơn chúng ta? Tôi có giải thích trước đây rằng một trong những lí do là họ có một vài tập san được ISI công nhận. Chẳng hạn Journal of the Medical Association of Thailand, hay Singapore Medical Journal được ISI và PubMed công nhận. Bọn Trung Quốc chúng nó cũng có một vài tập san được công nhận. Do đó, những bài trên hai tập san này được cho vào thư viện PubMed toàn cầu. Phần lớn mấy tập san này đăng bài của phe họ, như những bài của nghiên cứu sinh tiến sĩ, hay những bài đã bị mấy tập san phương Tây từ chối. Tuy chất lượng không cao, nhưng dần dần họ sẽ nâng cao uy thế và có impact factor tốt hơn. Vạn sự khởi đầu nan. Cách làm của họ như vậy thật đáng khen. Còn ta, theo tôi biết, thì không có tập san nào được ISI công nhận. Các tập san y khoa của Việt Nam (khoảng 20!) thì chất lượng quá thấp, chẳng có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, bài vở quá kém, tiếng Anh sai sót quá nhiều (có khi ngay cả tên tập san cũng dịch sai!) Do đó, vấn đề là làm sao huy động các tập san này để đi đến một tập san quốc gia, có hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, có abstract viết bằng tiếng Anh, và có ban biên tập với lí lịch khoa học “day”` một chút cộng với sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài. Nhưng làm sao huy động để lập một tập san quốc gia có lẽ không phải là điều dễ dàng. Thú thật, tôi không mấy lạc quan về triển vọng có một tập san y khoa cấp quốc gia ở Việt Nam được ISI công nhận. Để làm chuyện đó, cần phải có một người đứng mũi chịu sào tốt, có uy tín trên trường quốc tế (hay ít ra là có lí lịch khoa học “coi đuợc”+ một chút), nhưng tìm được người như thế không phải dễ. Nếu ban biên tập toàn là người trong nước thì đừng bao giờ nghĩ đến chuyện đăng kí ISI (tôi có kinh nghiệm nên biết điều này). Vậy thì phải có người nước ngoài tham gia ban biên tập. Người có tiếng chưa chắc họ chịu tham gia, vì ai dám để tên mình vào một tập san vô danh mà chưa biết làm ăn ra sao. Còn người chịu để tên thì có lẽ thuộc loại dỏm hay gần dỏm nên mới đánh cuộc kiếm chút danh. Vậy thì còn một thành phần khác có lẽ thực tế hơn: Việt kiều. Nhưng người Việt ở nước ngoài đụng phải cái tâm lí “Bụt nhà không thieng”^, nên tôi nghĩ họ cũng chỉ đứng ngoài nhìn vào thôi, chứ chẳng ai mời tham gia đâu. Đó là chưa nói đến người mình thiếu nghệ thuật giải quyết xung đột (conflich resolution) khi làm việc. Đó là lí do tại sao tôi thấy bi quan, và nghĩ chắc mình chẳng bao giờ có được một tập san ISI, hoặc có được, thì lúc đó những người như tôi và anh Hưng đã bị các vi khuẩn trong người tiêu diệt cho về bên kia thế giới rồi. Do vậy, tôi chia sẻ câu này của anh Hưng “Chỉ khi nào giải quyết được những tâm lý cục bộ đời thường, nhưng cũng rất đáng buồn, thì mới mong làm cái chuyện vẫn cứ nói mãi ở đầu môi chót lưởi mà không thực hiện được mảy may là : đi tắt đón đau..”^`. Trong tình huống tồi tệ nhất, mình nên sử dụng cách thực tế của người Tây phương: if you can not beat them, join them, và trong trường hợp này câu đó có nghĩa là: nếu không thành lập được một tập san riêng cho Việt Nam thì cách thực tế nhất là tham gia vào “cuộc choi”+ của người khác vậy. Chỉ có điều là cuộc chơi đó do người khác — chứ không phải mình — đặt ra luật chơi. Mà, mình không đặt ra được luật chơi ngay trên sân nhà thì mình sẽ nô lệ dài dài. Tuấn,  
GS.TSKH.NGUYỄN ĐĂNG HƯNG: TÔI PHẢI CHUYỂN HẾT “VỐN KIẾN THỨC” CỦA MÌNH CHO QUÊ NHÀ… Trong năm 2009 vừa qua, sau hơn 30 năm tham gia công tác giảng dạy tại các trường đại học tại Việt Nam, GS.TSKH.Nguyễn Đăng Hưng, Việt kiều Bỉ lại có thêm một đóng góp nữa cho quê hương: thành lập công ty Hưng Việt (Hưng Việt–HV, trụ sở tại quận 9, TP.HCM), công ty duy nhất của cả nước với mô hình kinh doanh “độc quyền”: vẽ họa đồ; thiết kế sản phẩm, thiết bị phức tạp trên không gian 2 hay 3 chiều; mô phỏng sự vận hành của thiết bị trong quá trình sử dụng… Khách hàng của những sản phẩm này là các công ty chế tạo xe hơi có tên tuổi như Mercedes, Audi, BMW, GM, Volwagen… KINH DOANH CÔNG NGHỆ CAO Thật ra công ty HV đã được GS.TSKH. Nguyễn Đăng Hưng “khởi động” từ năm 2006. Nhưng khi đó qui mô còn rất nhỏ, ngoài ông Hưng chỉ có 3 nhân sự là học viên của chương trình cao học Bỉ-Việt EMMC (do GS.TSKH.Nguyễn Đăng Hưng là sáng lập viên, chương trình thực hiện tại đại học bách khoa TP.HCM, và Hà Nội). Ba năm sau với tài “lèo lái” của GS. Nguyễn Đăng Hưng, công ty HV đã nâng số nhân viên lên 25 người. Duy nhất người cầm chịch là “hơi” có tuổi (GS.Nguyễn Đăng Hưng sinh năm 1941), các thành viên còn lại đều có số tuổi rất “đẹp”: dưới 27 tuổi. Sau khi có được sự tín nhiệm của các khách hàng là những công ty chế tạo xe hơi Mercedes, Audi, BMW, GM, Volwagen…Giữa năm 2009 vừa qua, GS.Nguyễn Đăng Hưng đã tiếp tục “nâng cấp” công ty lên một tầm cao mới: công ty quốc tế Hưng Việt (Hưng Việt International- HVI), cùng với HLS Engineering group một công ty trực thuộc tập đoàn KUKA, thành lập một liên doanh quốc tế chuyên về thiết kế dàn xe hơi, bố trí các dàn chế tạo tự động dành cho các robot. “Máy móc thiết bị” chính của công ty HVI là các phần mềm thiết kế cao cấp (CATIA V5), phần mềm toán cơ cao cấp (SAMCEF, ANSYS, NASTRAN…). Các sản phẩm của HVI được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường nước ngoài (phần lớn là Châu Âu). Các hãng chế tạo xe hơi như Mercedes-Daimler, BMW, PORSCH, GM, VOLkSWAGEN, TATA, cơ quan hàng không và không gian Châu Âu (EADS)…là những khách hàng chính của HVI. Với ngôn ngữ diễn đạt “đậm chất Việt kiều” GS.TSKH. Nguyễn Đăng Hưng tâm sự: “Công ty HVI là thành quả kinh doanh công nghệ cao của chúng tôi.Thế là sau hơn ba năm hoạt động, các kỹ sư trẻ Việt Nam đã chứng tỏ được năng lực của mình, các bạn trẻ đã tạo được lòng tin của các đối tác nước ngoài, khẳng định năng lực của mình trên thương trường công nghệ quốc tế. Từ đây công ty HVI chính thức là thành viên của tập đoàn công nghệ toàn cầu KUKA với hơn sáu ngàn nhân viên và có doanh thu hàng tỷ Euro một năm. Tôi rất hãnh diện về các bạn trẻ của HVI. Năm 2009, là năm mà kinh tế toàn cầu suy thoái đạt mức đỉnh điểm. Nhưng cũng là năm đánh dấu giai đoạn phát triển mới, một bước ngoặc vô cùng có ý nghĩa của HVI. Có thể xem đây là một tín hiệu tốt đẹp để công ty HVI sẽ đi xa hơn trong tương lai…” ĐÀO TẠO CÔNG NGHỆ CAO
Vị giáo sư gốc Việt tâm huyết với sự nghiệp giáo dục của đất nước http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=53&article=165001 ND- Hiện nay có gần bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống, lao động và học tập tại hơn 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có khoảng 300 nghìn Việt kiều có trình độ đại học trở lên. Rất nhiều trí thức Việt kiều đang ngày đêm mang công sức đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nước nhà. Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Ðăng Hưng, Việt kiều tại Bỉ là một người như thế. Ông được nhiều người gọi là “người mang tiến sĩ về cho Việt Nam”. Giáo sư Nguyễn Ðăng Hưng sinh năm 1941 tại tỉnh Quảng Nam. Ông nhận được học bổng đại học ngành kỹ thuật tại Vương quốc Bỉ năm 1960. Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1966, ông được giữ lại nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Kỹ thuật Hàng không (L.T.A.S.), một trung tâm nghiên cứu thuộc ÐH Liège nổi tiếng trong cộng đồng khoa học thế giới. Giai đoạn 1991-2006, ông là Trưởng khoa Cơ học Phá hủy, Ðại học Liège, Bỉ. Ông đã được trao huy chương Louis BAES của Viện Khoa học, Văn học và Nghệ thuật Hoàng gia Bỉ năm 1984, Huy chương Lao động hạng nhất của Chính phủ Bỉ năm 1996, Huân chương Ðại sĩ quan của Vua Léopold II của Bỉ năm 1999, Bằng khen của Bộ Ngoại giao Việt Nam năm 2001, Bằng khen của UBND TP Hồ Chí Minh khen thưởng cho kiều bào có công với đất nước năm 2002. Tháng 7-1999, ông được tạp chí hàng tuần của Bỉ Le Vif - L’Express bình chọn là một trong 12 người nước ngoài “đã làm thay đổi nước Bỉ”. Nhà khoa học gốc Việt này còn là một thành viên tích cực của Hội Việt kiều yêu nước tại Bỉ. Từ khi còn là sinh viên, ông đã tham gia các cuộc biểu tình chống chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam ở Brúc-xen. Ông đã được trao tặng danh hiệu “Vinh danh đất Việt” dành cho các trí thức, doanh nhân, các nhà hoạt động xã hội là Việt kiều có công lao với đất nước năm 2005. Nặng lòng với quê hương, nhiều năm qua Giáo sư Nguyễn Ðăng Hưng mang hết công sức đóng góp vào sự nghiệp giáo dục, đào tạo của nước nhà. Từ năm 1976, khi lần đầu tiên trở về Việt Nam giảng dạy tại ÐH Giao thông vận tải Hà Nội, Giáo sư Hưng đã cảm nhận sâu sắc truyền thống hiếu học của thế hệ trẻ ở Việt Nam. Từ đó, ông trăn trở tìm cách đóng góp vào sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực trẻ cho quê hương. Từ năm 1990, với uy tín và lòng nhiệt tình, ông thuyết phục các tổ chức quốc tế và nhiều nước châu Âu giúp đỡ tài chính cho hàng loạt chương trình đào tạo thạc sĩ ngành cơ học và nhiều ngành khác cho Việt Nam. Các chương trình đào tạo sau đại học này được xây dựng theo tiêu chuẩn châu Âu, được nhiều trường đại học nổi tiếng thế giới cấp bằng. Một số học bổng tiến sĩ được cấp cho các sinh viên xuất sắc nhất tiếp tục học tập ở châu Âu, Mỹ, Ca-na-đa, Nhật Bản và Ô-xtrây-li-a… Với vai trò cầu nối, giai đoạn 1995-2007, Giáo sư Hưng đã góp phần đào tạo tại chỗ cho đất nước 318 thạc sĩ cấp bằng châu Âu, trong đó hơn 100 người tiếp tục học lên tiến sĩ và 20 người đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Ông được nhiều người biết đến với tên gọi “người mang tiến sĩ về cho Việt Nam”. Ngoài ra, Giáo sư Hưng còn là sáng lập viên và điều phối viên các đề án hợp tác Bắc-Nam và nhiều dự án đa quốc gia. Ông là Phó chủ tịch Ban Ðiều hành và Ðiều phối viên phía Bỉ của đề án “Hợp tác đào tạo tiến sĩ một số chuyên ngành kỹ thuật tại châu Âu dưới hình thức đồng hướng dẫn bằng ngân sách Nhà nước Việt Nam” giai đoạn 2003-2008. Là một người tâm huyết với nền giáo dục nước nhà, ông cho rằng, đại bộ phận Việt kiều trí thức rất quan tâm và muốn huy động mọi tài lực xây dựng đất nước. Người Việt Nam sống xa Tổ quốc nhưng trái tim vẫn luôn hướng về quê cha đất tổ, về cội nguồn dân tộc, ngày đêm mong được góp phần nhỏ bé xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Ông tâm sự: “Bà con người Việt ta ở nước ngoài rất quan tâm tình hình trong nước, vui với những bước phát triển mới của đất nước và tự hào về quê cha đất tổ, về dòng máu Lạc Hồng”. Bích Hạnh 
Tập hợp trí thức, chấn hưng dân khí vì quyền lợi dân tộc P/v. GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư danh dự thực thụ, Đại học Liège, Vương quốc Bỉ, nguyên Chủ nhiệm Chương trình đào tạo thạc sĩ EMMC và MCMC tại Việt Nam -Thưa Giáo sư! GS đã từng nói: “Nếu không có đổi mới thì tôi sẽ không thể nào đóng góp được gì cho Việt Nam từ năm 1990 cho đến nay, đặc biệt cho ngành giáo dục và đào tạo bậc cao học mang tính quốc tế”. Xin GS có thể nói rõ hơn về vấn đề này? Công cuộc đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng cùng cực của thời bao cấp và cho phép VN phát triển thành công, nhanh chóng vươn lên làm cho cả thế giới thán phục, bạn bè nể trọng. Tuy nhiên trên hành trình phát triển mới, trong giai đoạn hội nhập hôm nay, thời buổi hậu WTO, tôi thiết tha mong đổi mới hơn nữa, nhanh hơn nữa, triệt để hơn nữa. Điều này cả nước mong đợi, Việt kiều chúng tôi mong đợi nhưng phải thành thật nói là mọi việc vẫn còn là kỳ vọng! Chuyên gia trí thức Việt kiều quan tâm đến tình hình hiện nay đều không khỏi lo âu vì những lý do chủ quan và khách quan như ảnh hưởng suy thoái tòan cấu, kinh tế Việt Nam đang bị khựng lại, tình trạng tham nhũng không giảm thiểu mà ngày càng lộng hành. Theo tôi, cơ chế quan liêu bao cấp vẫn còn là vật cản cho công cuộc HĐH và CNH đất nước. Điều làm tôi rất lo là cơ chế này nay gắn liền với nhiều lợi ích cục bộ. Tôi e rằng khả năng mất cân bằng giữa sự phân tầng quyền lực và tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị. Nguy cơ này càng đáng quan ngại hơn nữa khi Việt Nam phải đối phó với áp lực bên ngoài và ra sức bảo vệ toàn vẹn lãnh hải đang bị đe dọa nghiêm trọng. -Theo GS, công tác quản lý nghiên cứu khoa học tại Việt Nam đang gặp phải những vấn đề gì? Là một giáo sư đại học, một nhà khoa học đã sinh hoạt 48 năm tại một nước tiên tiến, đã bỏ ra 15 năm thường xuyên qua lại châu Âu - Việt Nam để chuyển giao công nghệ, tôi đặc biệt quan tâm và có nhiều trăn trở thiết thực về việc tổ chức nghiên cứu khoa học tại Việt Nam. Tôi có cảm giác, ta đã đi chệch hướng lâu hằng mấy thập kỷ. Khi cả một hệ thống nghiên cứu khoa học đã chồng chất quá nhiều bất cập, thì mọi thay đổi nhanh chóng là điều rất khó. Báo chí đã nhiều lần đề cập đến tính không hiệu quả của nền khoa học Việt Nam. Những con số rất thuyết phục đã chỉ rõ Việt Nam ta đang đứng ở đâu so sánh với các nước lân bang: Số bằng sáng chế của VN là 0 trong năm 2006 trong lúc của Mã Lai là 147, Thái Lan là 158, Singapore 995, Hàn Quốc là 102.663 (Báo cáo của ĐH Harvard về Giáo dục đại học tại Việt Nam). Tình trạng này không thể kéo dài thêm nữa và yêu cầu canh tân hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học Việt Nam là yêu cầu bức thiết không thể không có được nếu ta muốn đạt mục đích hằng đề ra là HĐH và CNH đất nước. Luật Công nghệ đa ra đời, nhưng theo tôi đây chỉ là những biện pháp tình thế chưa phải là bước đi có tính đột phá cần thiết để nhanh chóng phát triển bắt kịp lân bang. -Theo GS, tính đột phá đó là gì? Cần có một tư duy mới mẻ và dũng cảm mới có thể trả lại khoa học lại cho các nhà khoa học chân chính, mới tạo điều kiện cho việc xuất hiện một không gian, một môi trường thông thoáng dân chủ cởi mở cần thiết cho các nhà khoa học thực thụ. Bởi vì khoa học là tôn trọng sự thật, là phát hiện cái mới, là sáng tạo, là phê phán cái cũ, là phát huy cá tính năng khiếu, là thoát ra khỏi những khuôn mẩu xơ cứng, những đường mòn giáo điều, là vươn ra thế giới bao la, là tôn trọng những hệ giá trị quốc tế về khoa học… Nói tóm lại, ta phải triệt để đổi mới tư duy mới có thể phục hồi tinh thần khoa học chân chính. Cụ thể hơn tại Việt Nam ngày nay, muốn đột phá, phải dũng cảm cắt bỏ những khối u nhức nhối trong các cơ sở khoa học, phải rà soát lại nhân sự đang làm khoa học, phải chọn đúng người đầu đàn cho từng lĩnh vực… -Một trong những vấn đề cốt lõi mà toàn xã hội đang quan tâm, đó là làm thế nào để kiện toàn đổi mới nền giáo dục, chấn hưng đất nước. GS nghĩ sao về vấn đề này? Đúng! Đây là vấn đề cốt lõi mà toàn bộ xã hội đã và đang bức xúc. Tôi thiết tha mong mỏi Việt Nam nhanh chóng cải tổ triệt để nền giáo dục. Trên thực tế, đã có biết bao nhiêu ý kiến của các bậc thức giả, các nhà giáo tâm huyết trong và ngoài nước cho việc này. Bản thân tôi cũng đã nhiều lần phát biểu, đã viết nhiều bài báo được đăng tải trên các cơ quan ngôn luận đại chúng… Nhưng, nói thật, việc đổi thay sao quá chậm chạp! Ở đây cũng toát lên những sai lầm đã chồng chất quá nhiều năm có hiệu ứng dây chuyền, cỗ xe thì quá cồng kềnh, sức ỳ quá lớn, lợi ích cục bộ phe phái quá nhiều nên mọi chuyện có vẻ như đâu rồi cũng vào đấy. Tôi chưa thấy bánh xe đổi mới giáo dục thực sự lăn, dốc còn quá cao chăng? Theo tôi, muốn có thay đổi căn bản phải chạy chữa cho được những căn bệnh trầm kha, như là: Vai trò người thầy trong giáo dục chưa được coi trọng đúng mức, chính sách đào tạo người thầy chưa ổn, lương bổng không đủ ăn, điều kiện sinh hoạt còn nhiều bất cập; đề cao số lượng coi thường chất lượng; đề cao bằng cấp, coi thường học thực, vv… Không thể dùng liều thuốc cảm để chữa bệnh di căn! Động tác này cũng cần sự đổi mới tư duy triệt để. Khi tư duy đã dứt khoát, hướng đi đã xác định, thì vấn đề còn lại chỉ là thời gian. Đọc dự thảo chiếc lược giáo dục, tôi vẫn chưa thấy toát ra yêu cầu bứt thiết này. -Thưa GS, theo GS, người trí thức chân chính thường “dị ứng” với những vấn đề nào? Người trí thức chân chính rất dị ứng với môi trường quan liêu mệnh lệnh, xơ cứng. Họ cần một môi trường thông thoáng, cởi mở, dân chủ tự do. Chỉ như vậy thì trí thức mới phát huy được đầy đủ vai trò của mình. Không có không gian tự do sáng tạo và tranh luận công khai ý kiến thì không thể xuất hiện đội ngủ trí thức chân chính và tâm huyết được. Tại sao tôi nói như vậy? Chất xám là sản phẩm quý hiếm nên nó mong manh, dễ vỡ. Huy động chất xám nhất là chất xám cao cấp cần những biện pháp tế nhị. Điều này đòi hỏi cần phải tạo dựng một không khí thoải mái, thân thiện, dân chủ tự do trong phát biểu, góp ý và đề xuất khoa học. Đây là điều tiên quyết để trí thức người Việt ở nước ngoài về hoạt động và đóng góp hết mình. Cần đặc biệt chú trọng đến những chính sách đối với trí thức trong nước. Vì đây như là cái gương để trí thức kiều bào soi thấy và quyết định hành động của mình. Tôi nghĩ phải tạo điều kiện cho trí thức trong nước phát biểu, phản biện thẳng thắn vô tư độc lập. Đây chính là nhân cách của những nhà hoạt động khoa học độc lập, vì họ tôn trọng chân lý và sự thật, không bị chi phối bởi những lợi ích cục bộ. Hãy để mọi người hướng chung tới quyền lợi dân tộc, thể hiện tinh thần yêu nước một cách hài hòa và đầy đủ. Nếu trí thức trong nước còn phải e dè lo ngại, thì trí thức người Việt định cư ở nước ngoài làm sao khỏi cảm thấy băn khoăn, do dự… XUÂN THÁI thực hiện (Sài Gòn 31/12/2009)              
Vài thông tin và lời tri ân Ban tổ chức Đêm ra mắt đã gặt hái được kết quả mong đợi! Phòng trà Ánh Tuyết, một sàn ca hát chuyên nghiệp, đã không còn một chỗ trống trong đêm ra mắt Album “Sẽ cuốn theo gió bay” 23/12/2009 ! Vì mùa Giáng sinh là giai đoạn có sinh hoạt văn nghệ căn thẳng cho các phòng trà và các nghệ sỹ, chỉ có một buổi tập dợt chuẩn bị dành cho đêm ra mắt album. Tuy nhiên mọi tiết mục đã diển ra êm thắm ngay cả với những ca sỹ nghiệp dư. Nếu ca sỹ Bảo Yến rất chuyên nghiệp và sắt sảo với liên tục ba ca khúc Việt Nam quen thuộc thì ca sỹ Phi Thúy Hạnh (có cái gì nao nao gợi lại hình ảnh Edith Piaf) rất ấn tượng với hai bài nhạc ngoại lời Việt mới toanh. Quỳnh Lan cũng vậy với phong cách đặc biệt cùng với nhạc sỹ guitar Trọng Hoàng và bài “The winner takes it all - Người về cướp mất của tôi”, một ca khúc nổi tiếng của nhóm ABBA. Ca Sỹ Lê Anh cũng rất thành công khi hát cả lời Anh và lời Việt qua bài “Imagine” (Ta mơ đi) của John Lennon. Tốp Ca Nam hai lần ra sân khấu (hát bè cùng với GS Nguyễn Đăng Hưng qua bài “The great pretender - Kẻ tự mãn tuyệt vời” và hát xướng ca bài “I have a dream - Như vào mộng mơ” đã đem lại cho người nghe những giai điệu vừa nhộn nhịp vừa sâu lắng, có cái gì gần gủi với nhóm “The Platters” hay nhóm ABBA. Khán giả cũng nhắc nhiều đến Bích Ngà hát Trịnh Công Sơn với giọng trầm thật gợi cảm và Hoàng Lan ngọt ngào tình tứ với bài “Mơ” (Nhạc Võ Tá Hân, thơ Nguyễn Đăng Hưng). Nhạc sỹ Miên Đức Thắng với hai sáng tác mới thật rộn rã nhưng rất trí tuệ do chính mình trình diễn đã đem lại nhiều cảm xúc mới mẻ cho khán thính giả. Các ca sỹ nghiệp dư: Ngọc Hùng, Bảo Trân, BS Đặng Công Hân, với phần trình diễn đầy cá tính nhưng nghiêm túc và nghệ thuật, cũng đã gây được nhiều cảm tình với những ca khúc đã chọn. Ban nhạc do Thanh Dũng điều khiển đã tỏ ra rất chuyên nghiệp trong hòa âm phối khí tuy với thời gian chuẩn bị hạn hẹp! Ban tổ chức đặc biệt cám ơn ca sỹ Bảo Yến về lòng hào hiệp của cô, ca sỹ Ánh Tuyết đã hết lòng ủng hộ, các ca sỹ chuyên nghiệp hay nghiệp dư đã không quản công sức tham gia đêm hát, nhà báo Trúc Mai đã tận tụy tham gia soạn thảo kịch bản và giới thiệu nhân vật chính, MC Cường bài bản và lưu loát, nhạc sỹ guitar Tuấn Khanh bay bướm và điêu luyện, bạn Trần Thanh Long thay mặt đoàn Y Bác Sỹ Chi hội Bảo trợ bênh nhân nghèo Thiện Đức đã đồng ý tham gia ban tổ chức một cách rất hữu hiệu… Ban tổ chức cũng xin tri ân bạn hữu xa gần xa, các cựu học viên cao học Bỉ đã hết mình ủng hộ và có hành động cao quý đóng góp quỷ từ thiện. Toàn bộ số tiền thu (9 triệu năm trăm bảy mươi hai ngàn đồng) đã được trực tiếp trao Chi hội từ thiện Thiện Đức (xem thư đính kèm). Sau đây là những hình ảnh đáng ghi nhớ… Sài Gòn ngày 30/12/2009
     
Chương trình *************** | STT |
| Nhạc | Lời Việt | Người hát | Nhạc đệm | | 0 | 8:45 | Giới thiệu GSTS Nguyễn Đăng Hưng và Album “Sẽ cuốn theo gió bay” Nhà báo Trúc Mai | | 1 | 8:50 | Blowin in the wind (Nhạc Mỹ, nhạc và lời Bob Dylan, 1963) | Cuốn theo gió bay Nguyễn Đăng Hưng | Nguyễn Đăng Hưng | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 2 | 8:55 | J’ai oublié de vivre (Nhạc Pháp, nhạc và lời: Patrick Norman, Johnny Hallyday, 1970) | Tôi đã quên cuộc sống Nguyễn Đăng Hưng) | Nguyễn Đăng Hưng | Ban nhạc ATB Thanh Dũng
| | 3 | 9:00 | Le plat pays (Nhạc Pháp, nhạc và lời Jacques Brel, 1960) | Miền đất phẳng Nguyễn Đăng Hưng | Nguyễn Đăng Hưng | Tuấn Khanh và Nguyễn Đăng Hưng đệm guitar | | 4. | 9 :05 | Nhạc Việt Phạm Đình Chương | Nửa hồ thương đau | Bảo Yến | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 5 | 9 :10 | Nhạc Việt | Chiều hạ vàng Nguyễn bá Nghiêm | Bảo Yến | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 6 | 9:15 | Non, je ne regrette rien (Nhạc Pháp, nhạc và lời Charles Dumont, Edit Piaf, 1960) | Không có sao đâu Nguyễn Đăng Hưng | Phi Thúy Hạnh | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 7 | 9:20 | Amour défendu Nhạc Tây Ban Nha-Pháp, Mireille Mathieu | Tình ngang trái Nguyễn Đăng Hưng | Phi Thúy Hạnh | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 8 | 9:25 | Nhạc Việt Trịnh Công Sơn | Ru ta ngậm ngùi | Bích Ngà | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 9 | 9:30 | Imagine (Nhạc Anh, nhạc và lời John Lennon, 1971) | Ta mơ đi Nguyễn Đăng Hưng | Lê Anh | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | |
| 9:35 | Đoàn Y Bác sỹ Chi Hội THIỆN ĐỨC phát biểu TS Trần Thanh Long (VK Mỹ) Phó Chủ Nhiệm | | 10 | 9:40 | Serenata Nhạc Ý của Toselli | Chiều tà Phạm Duy | BS Đặng Công Hân | BS Hân bố trí đệm riêng piano | | 11 | 9:45 | Hát nhạc Việt Miên Đức Thắng | Say bạn tình say Miên Đức Thắng | Miên Đức Thắng | Miên Đức Thắng tự đệm guitar | | 12 | 9:50 | Hát nhạc Việt Miên Đức Thắng | Tôi sông là bến đò Miên Đức Thắng | Miên Đức Thắng | Miên Đức Thắng tự đệm guitar | | 13 | 9:55 | Nhạc Việt Thơ Nguyễn Đăng Hưng, | Mơ Võ Tá Hân | Hoàng Lan | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 14 | 10:00 | Que serais-je sans toi (Nhạc Pháp Jean Ferrat phổ thơ Louis Aragon, 1964). | Không em đời sẽ ra sao Nguyễn Đăng Hưng | Nguyễn Đăng Hưng | Tuấn Khanh và Nguyễn Đăng Hưng đệm guitar | | 15 | 10:05 | It's now or never (Nhạc Mỹ dựa theo ca khúc gốc Ý O Sole Mio, Elvis Prestley, 1960) | Hôm nay là mãi mãi Nguyễn Đăng Hưng | Nguyễn Đăng Hưng | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 16 | 10:10 | The great pretender (Nhạc Mỹ, The Platters 1960). | Kẻ tự mãn tuyệt vời Nguyễn Đăng Hưng | Nguyễn Đăng Hưng và tốp ca nam | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 17 | 10:15 | Memory (Barbra Streisand) Trevor Eliot, T S Lloyd-Webber, Andrew |
| Bảo Trân | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 18 | 10:20 | La Paloma Sebastián Iradier (Yradie) | Từ Vũ | Ngọc Hùng | Ban nhạc ATB Thanh Dũng | | 19 | 10:25 | The Winner Takes It All (Nhạc Anh-Thụy Điển, nhạc và lời nhóm ABBA, 1980). | Người về cướp mất của tôi Nguyễn Đăng Hưng | Quỳnh Lan | Quỳnh Lan và Trọng Hoàng đệm guitar | | 20 | 10.30 | Amor Amor Amor Luis Miguel, Dalida | Bài ca tình yêu Anh Bằng | Quỳnh Lan | Quỳnh Lan và Trọng Hoàng đệm guitar | | 21 | 10:35 | I have a dream (Nhạc Thụy Điển, nhạc và lời nhóm ABBA) | Như vào mộng mơ Nguyễn Đăng Hưng | Tốp ca nam ATB | Ban nhạc ATB Thanh Dũng |

GS-TS Nguyễn Đăng Hưng soạn lời Việt cho những ca khúc bất hủ (TT&VH) - Đêm nay 23/12 tại phòng trà ATB, TP.HCM sẽ diễn ra đêm nhạc Sẽ cuốn theo gió bay gồm 18 ca khúc nước ngoài do GS-TS Nguyễn Đăng Hưng soạn lời Việt, cùng một số bài hát Việt Nam, trong đó có 2 sáng tác mới nhất của Miên Đức Thắng. Đây cũng là đêm nhạc mà GS Nguyễn Đăng Hưng giới thiệu với bạn bè CD Sẽ cuốn theo gió bay. Tham gia thể hiện chương trình có các ca sĩ Bảo Yến, Quỳnh Lan, Phi Thúy Hạnh, Lê Anh… GS Nguyễn Đăng Hưng là Việt kiều yêu nước (Bỉ), ông là một nhà khoa học, nhà sư phạm góp phần làm rạng danh đất nước Việt Nam tại hải ngoại. Ông đã từng nhận huân chương cao quý Đại sĩ quan do Chính phủ Vương quốc Bỉ trao tặng (1999), từng nhận bằng Vinh danh nước Việt (2006) và nhận bằng khen của Bộ Ngoại giao nước ta trao tặng (2005 và 2007). Nhưng ngoài ra ông còn là một tâm hồn lãng mạn, biết hát, biết chơi guitar và đã chuyển soạn lời Việt cho khá nhiều ca khúc bất hủ của thế giới. Đêm nhạc 23/ 12 này do ông tổ chức với khách mời là những tâm hồn đồng cảm có thể cùng ông chung tay để giúp đỡ cho những trẻ em mồ côi và khuyết tật… TT&VH có cuộc trò chuyện với GS Nguyễn Đăng Hưng. * Là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu khoa học, lý do nào ông lại làm công việc chuyển soạn lời Việt cho các ca khúc nước ngoài? - Tôi cho rằng mọi thứ rồi cũng “sẽ cuốn theo gió bay”, chỉ có di sản tinh thần mới trường tồn mãi mãi và những di sản tinh thần đầy tính nhân văn sẽ làm cho con người yêu thương nhau hơn. Tôi yêu nhạc từ hồi còn là học sinh trung học, đặc biệt là yêu các ca khúc nước ngoài. Tuy nhiên do nghề nghiệp, tôi không có thời gian để làm những công việc âm nhạc mà mình yêu thích, bây giờ đã hưu trí, có chút thời gian rảnh rỗi sống cho mình, tôi tìm lại những kỷ niệm đã “ru” tôi thời trẻ, đó là những bài ca vượt thời gian có tính phổ quát. * Tiêu chí nào ông chọn ca khúc để chuyển soạn lời Việt và ông đã thực hiện được bao nhiêu ca khúc rồi? - Tiêu chí đầu tiên là bài hát hay theo cảm nhận của tôi và bạn bè, những bài hát đã tồn tại cùng thời gian cho đến nay như: Cuốn theo gió bay (Blowin In The Wind) của Bob Dylan, Ta mơ đi (I Magine) của John Lennon, Hôm nay là mãi mãi (It’s Now Or Never) của Elvis Presley, Như vào mộng mơ (I Have A Dream) của ABBA… tôi thích những bản nhạc có nhiều chất thơ và âm điệu dễ thấm vào lòng người, chuyển soạn lời Việt mà vẫn giữ được nội dung lời ca và chất thơ của nó. Tôi làm việc này với niềm say mê và hứng thú thật sự. Tôi đã chuyển soạn lời Việt khoảng 25 ca khúc, lần này thực hiện CD Sẽ cuốn theo gió bay gồm 10 bài do chính tôi hát, tuy tôi không phải là một ca sĩ chuyên nghiệp. * Là một nhà khoa học, khi làm công việc sáng tạo nghệ thuật cảm nhận của ông như thế nào? - Phải nói là rất khó, hơn nữa do tôi không có được kiến thức âm nhạc bài bản, ngay cả chơi guitar tôi cũng chơi rất ngẫu hứng. Nhưng tôi cảm thấy rất sảng khoái và có lẽ chính nhờ vậy mà tôi vượt qua được những khó khăn, mỗi bài hát chuyển soạn lời Việt, tôi đã hát lại hàng trăm lần để cảm nhận, chiêm nghiệm trước khi cho là hoàn thành. Sáng tạo trong khoa học hay nghệ thuật đều phải có chung một điểm là niềm đam mê, nếu không có nó chúng ta sẽ khó thành công. * CD Sẽ cuốn theo gió bay là làm tặng bạn bè hay có xin phép phát hành rộng rãi trong công chúng? - Mục đích của CD này là làm tặng bạn bè, không mang tính thương mại. Ngay cả đêm nhạc tại phòng trà ATB 23/12/2009 cũng là một đêm nhạc mang tính nội bộ, hát cho bạn bè nghe, chứ không bán vé, lại còn đãi bạn bè cả nước uống. Tuy nhiên, hôm đó chúng tôi có đặt một thùng nhận tiền từ thiện, nếu bạn bè muốn ủng hộ để cùng chúng tôi giúp đỡ những mảnh đời cơ cực. Toàn bộ số tiền này chúng tôi sẽ trao cho tổ chức từ thiện Thiện Đức. Đây là tổ chức quy tụ một số bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ và một số Việt kiều để đi đến các vùng sâu, vùng xa khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho trẻ em nghèo. * Cảm ơn ông. Bình Minh (thực hiện) 
Tính phổ quát và vĩnh cữu của những ca khúc hay QL: Mục đích của ông khi thực hiện album này? Ông có khó khăn gì khi thưc hiện album này? Nguyễn Đăng Hưng: Cũng chẳng có mục đích gì cho rõ nét. Chỉ giải trí để xả stress thôi. Tôi vốn yêu nhạc từ còn là học sinh trung học, đặc biệt thanh nhạc Tây phương, nhạc thịnh hành những năm 50-60-70. Bây giờ đã lấy hưu trí có chút rãnh rỗi, tôi tìm về những giá trị nghệ thuật của tuổi hoa niên, tập dượt và thử chuyễn lời Việt và trình diễn. Tôi cố tình chọn những bài hát hay mà gần như chưa ai đặt lời Việt để giới thiệu với thính giả Việt Nam. Khó khăn ư? Nhiều lắm. Tôi bước vào một lĩnh vực hoàn toàn mới đối tôi, cũng chẳng được trang bị nhiều về nhạc lý… Tôi chưa bao giờ theo học một lớp âm nhạc, chỉ đệm ghi ta theo cảm hứng… Đặt lời Việt cho nhạc ngoại không phải là việc dễ dàng vì tôi chủ trương phải thể hiện thông điệp của tác già, phải chất chứa chất thơ mà tác giả đã gởi gấm qua nét nhạc, phải chính xác mỗi chữ, mỗi câu, bỏ trúng dấu cho dễ hát. Tiếng Việt lại là một ngôn ngữ mà âm điệu thì vô cùng phong phú, uyển chuyển… QL: - Ông tâm đắc bài nào nhất? Tại sao? Nguyễn Đăng Hưng: Có lẽ là hai ca khúc có nhiều chất thơ: Trước nhất là ca khúc “ Que serais-je sans toi” (không em đời sẽ ra sao?) là tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại này. Trong những năm 60, Jean Ferrat thường phổ thơ Aragon, nhà thơ lớn của nước Pháp, thế kỷ 20. Bái hát đã diển tả được một cách tài tình tâm trạng khắc khoải, thiết tha của Aragon dành cho người vợ yêu của mình là Elsa Triolet. Một thành công trường tồn qua năm tháng. Vì có nhiều cảm xúc, tôi chuyễn ngữ đến hai lần. Bài thơ của Aragon qua thể thơ lục bát năm 1979, đặc biệt tặng người yêu lúc bấy giờ người bạn đời hiện nay của tôi. Lần thứ hai mới đây tháng 11 2008 vừa qua, tôi đặt lời Việt cho bài hát do Jean Ferrat phổ thơ Aragon. Một lần nữa tặng bà ấy sau hơn 30 năm chia sẻ ngọt bùi của cuộc sống. Bài thứ hai là bài “Le plat pays” của nhạc sỹ, ca sỹ lừng danh Jacques Brel. Bài này không nổi tiếng bằng các tác phẩm khác cùng tác giả mà ai cũng biết như “Ne me quitte pas” hay “Quand on n’a que l’amour”… nhưng đây là bài tôi thích ví nó rất thơ. Qua tác phẩm này, Jacques Brel nói lên tình cảm dạt dào của mình đối vùng đất phẳng, nơi ông sinh ra, đó là vùng Flandre, miền bắc nước Bỉ. Vùng này tuyệt đối không có đồi núi nên quanh năm gió rất mạnh, lạnh bút da trong mùa đông gió bấc. Phải chờ đến tháng 5 khi gió từ hướng Nam thổi về khí hậu mới ấm áp. Miền đất phẳng ơi, quê tôi thân yêu ! QL: - Ông muốn gửi gắm một thông điệp gì đến người nghe?, Nguyễn Đăng Hưng: Tính phổ quát và vĩnh cữu của những ca khúc hát hay. Nhưng ca khúc hay không có nếp nhăn qua năm tháng và hát lại những ca khúc này tôi thấy như trẻ lại, sống lại cái thời còn là học sinh, sinh viên. QL: - Ông có sợ album Sẽ cuốn theo gió bay sẽ bị chìm lĩm giữa một rừng album trẻ trung sôi động của thị trường âm nhạc TPHCM không?, Nguyễn Đăng Hưng: Tổ chức ra mắt album này tại thành phố tôi muốn tạo dịp gặp gỡ lại bạn bè trong không khí êm đềm của những ngày gần lễ Giáng sinh. Tôi không có mục đích quảng bá rộng rãi album này, nhất là mục đích thương mại. Album sẽ là quà tặng cho mọi người và tiền cho chùm hoa sẽ dành cho một đoàn từ thiện Việt kiều có mặt tại thành phố. Dĩ nhiên là tôi sẽ rất vui nếu nó gây được sự chú ý của các bạn trẻ Việt Nam… QL: - Cảm xúc của ông ra sao khi chuẩn bị ra mắt album? Nguyễn Đăng Hưng: Cảm xúc của một người khi ra được một ấn phẩm. Nó cũng nao nao giống cảm xúc ngày nào trước đây tôi hoàn thành một công trình khoa học và công bố trên diễn đàn quốc tế… Chỉ khác là âm nhạc cho phép cho tôi gần gủi đại chúng hơn. Ngay cả cháu ngoại tôi mới 5 tuổi cũng biết đến, thỏ thẻ bên tai tôi qua điện thoại : Con nghe ông ngoại hát con thích lắm ! QL: - Ông có biết những nhà khoa học VK nào yêu thich văn chương nghệ thuật và có thể làm văn chương nghệ thuật song song với hoạt động khoa học, như ông không? Nguyễn Đăng Hưng: Tôi chỉ tập tành theo bước những người đi trước. Thí dụ GS Đặng Đình Áng đã từng trình diễn thổi sáo với một dàn hạc giao hưởng. Bác Sỹ Trương Thìn cũng là nhà thơ nhạc sỹ có nhiều sáng tác… Nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận cũng là nhà văn với rất nhiều tác phẫm nỗi tiếng trên thế giới và tại Việt Nam… QL: - Có nhiều VK yêu âm nhạc đã về nước thực hiện album, giới thiệu bài hát hoặc giọng ca của mình. Ông có thể chia sẻ điều gì với họ và những người đang muốn có một hoạt động văn nghệ ngẫu hứng như ông? Nguyễn Đăng Hưng: Tôi cho đây là những sinh hoạt lành mạnh. Việc giao lưu giữa những văn nghệ sỹ chuyên nghiệp trong nước và những Việt kiều yêu thơ yêu nhạc chính là những kết nối văn hóa đáng quí. Và biết đâu sinh hoạt ngẫu hứng này sẽ nẩy sinh những tác phẩm có giá trị làm cho phong phú thêm nền văn hóa nghệ thuật chung của dân tộc Việt.
| |